Tuesday, April 8, 2014

Ăn chay và tình cảm trong gia đình


 


Chuyện Cấm Cười - Theo Thư Viện Hoa Sen 

Hỏi:

Chúng tôi là một đại gia đình gồm cha mẹ và năm anh chị em, hai trai, ba gái. Trong suốt cuộc đời tôi, hình ảnh mẹ tôi là trung tâm của gia đình. Từ khi còn ở Việt Nam, mẹ tôi là một bà nội trợ giỏi, với đồng lương công chức eo hẹp của ba tôi, mẹ tôi chi tiêu tằn tiện, may lấy quần áo cho chúng tôi, nấu những món ăn cho gia đình, dù không phải sơn hào hải vị, nhưng rất ngon. Tôi vẫn còn nhớ món cá nục trong những cái rổ nan, mẹ tôi chiên lên, rưới nước mắm, rắc hạt tiêu rồi hạ lửa xuống chỉ còn riu riu, mùi cá xém vàng nâu quyện với nước mắm cô đặc lại, bốc lên thơm ngào ngạt.

Khi ba tôi được đi theo diện HO, chúng tôi qua đến đây cũng còn nghèo lắm, mẹ tôi vẫn làm những món ăn rẻ tiền như khi còn ở quê nhà, đôi khi sang hơn một chút như có thêm thịt gà, thịt heo, vân vân… Còn nhớ những chiều đi học về, bóng dáng mẹ lui cui trong bếp, tay đũa tay thìa, mẹ nêm nếm những món gà kho gừng, cánh gà xào chua ngọt, mùi thơm hấp dẫn, tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào chảo để vét lại cái chất nước sốt dẻo quánh, thơm và ngọt lựng trong cổ. Ðôi khi, mẹ tôi cũng chiên cá nục với nước mắm và hạt tiêu như khi xưa, mẹ bảo:” Món này rẻ lắm”, chúng tôi lại thấy ngon quá, chẳng đòi mẹ món ăn đắt tiền. Còn nhớ hôm anh tôi ra trường, mẹ tính cho cả nhà ăn món gà El Pollo Loco, nhưng rồi mẹ lại mua thịt gà về quay với bơ, mẹ bảo nhà làm thế này rẻ hơn nhiều, chúng tôi thì thấy ngon quá rồi, chẳng cần đòi hỏi gì thêm.

Ngày tháng êm ả trôi mau trong cuộc sống thanh bạch mà vui. Rồi chúng tôi ra trường, có gia đình, con cái. Mỗi cuối tuần, chúng tôi vẫn về ăn cơm với ba mẹ, rồi gửi con cho mẹ tôi trông giùm để đi coi chiếu bóng hay thăm bạn hữu. Mỗi tuần mẹ tôi lại nấu một món đặc biệt, như phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang, bún bò Huế, mì Quảng, bánh xèo, bánh tôm, chả giò, vân vân, món nào của mẹ nấu cũng đều rất ngon. Dù nay thì chúng tôi dư tiền để ra tiệm ăn những món mà ngày trước coi là món ăn sang, nhưng chúng tôi thấy món mẹ nấu ngon hơn, thích ăn ở nhà ba mẹ hơn.

Từ khi chúng tôi đi làm, có gia đình, thì đời sống của ba mẹ tôi cũng khá hơn. Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, chúng tôi cũng biếu thêm chút đỉnh để ba mẹ đi chơi, hoặc có tiền chiêu đãi bạn bè, linh tinh. Mẹ tôi thì đi chùa, đi thăm bè bạn. Và rồi vấn đề bắt đầu nẩy sinh từ lúc này.

Sau một thời gian đi chùa, mẹ tôi bắt chước các bà bạn, học làm đồ chay, rồi đổi qua ăn chay. Lúc đầu thì còn ăn một tháng có mấy ngày, sau ăn chay trường luôn, chấm dứt ăn thịt.

Hồi mới ăn chay, mẹ tôi vẫn còn nấu các món ăn mặn như thường lệ. Sau một thời gian thì bà chỉ nấu món chay và mua những món mặn nấu sẵn ở ngoài tiệm đem về để mọi người ăn dặm chung trong mâm. Dần dần, những bữa ăn món đặc biệt cuối tuần như phở, bún, vân vân, cũng biến mất. Mẹ ít vào bếp, thường yêu cầu chúng tôi mua đồ ăn nấu sẵn, hoặc cùng nhau ra tiệm ăn. Thành ra sự đi chùa, tu hành theo đạo Phật thì từ bi đâu không thấy, chỉ thấy gia đình tôi mất những bữa ăn ngon lành đầm ấm khi xưa.

Ba tôi rất bực mình vì khẩu vị của ba đã quen với cách nấu ăn, nêm nếm của mẹ. Cơm ngoài tiệm ba thường chê mặn, chê bột ngọt, chê dầu mỡ, có khi chỉ nếm qua rồi bỏ ăn, đứng lên.

Cả ba tôi và chúng tôi đều oán đạo Phật và sự ăn chay, đã làm mất những bữa cơm gia đình ấm cúng của chúng tôi, đã làm mất niềm vui mà đã bao lâu nay mẹ chúng tôi đã đem lại cho chúng tôi.

Xin quý vị giúp ý kiến cho tôi, nên khuyên mẹ tôi ăn thịt trở lại, hay là nên khuyên ba tôi chấp nhận sự ăn trường trai và không nấu thịt cá của mẹ.

Trân trọng cảm ơn quý vị,
Ngọc Hạnh
Đáp:

Ðọc thư của bạn Ngọc Hạnh với những chi tiết nồng đượm tình gia đình, chúng tôi rất ngậm ngùi. Cũng như bạn Ngọc Hạnh, chúng tôi cũng cảm nhận được sự mất mát của gia đình bạn. Cảm nhận sự mất mát thì giống nhau, nhưng là những người đứng ngoài, nên chúng tôi có thể thấy thêm vài khía cạnh khác của vấn đề, xin trình bày ra cùng quý thính giả và bạn Ngọc Hạnh, như sau:

- Trước nhất, một điều rất rõ là gia đình bạn Ngọc Hạnh đã đặt tất cả niềm vui vào một trung tâm điểm, trung tâm điểm này "không phải là bà mẹ” nhưng là “khả năng nấu ăn ngon của bà mẹ”. Bởi vì bà mẹ vẫn còn sống đó, chỉ ngừng nấu các món mà gia đình thích thôi, là tất cả tình cảm mà trước kia biểu hiện ra trong việc nấu ăn, nay dĩ nhiên là vẫn còn đó, đã bị chồng con xóa hết rồi. Bản thân bà cũng vẫn còn đó, nhưng tình yêu của gia đình đối với bà thì dường như đã bị sứt mẻ. Tâm lý đó của mọi người trong gia đình có thể đã đôi khi biểu lộ ra, dù không quá lộ liễu, nhưng cũng đủ khiến cho bà mẹ suy nghĩ về “thân phận công cụ nấu bếp” của mình trong lòng chồng con chăng?

Trong cuộc sống vô thường, mọi sự đổi thay từng giây, từng phút, không ai biết lúc nào mình sẽ thở ra mà không còn hít vào này, sự đặt tất cả niềm hạnh phúc của gia đình vào tài nấu ăn của một người là sai lầm. Có thể bất thình lình bà mẹ bị tật bệnh gì đó, không còn nấu nướng được nữa, hoặc một ngày nào đó, tuổi già sức yếu, bà mẹ không thể gánh vác được những kỳ vọng mà chồng con đặt vào bàn tay làm bếp của mình, thì tất cả niềm vui của gia đình cũng sụp đổ hay sao? Còn phải nhớ đến rằng cái chết có thể tới với bất cứ ai vào bất cứ lúc nào, cho nên mỗi người phải tự mình tìm được sự an lạc từ nội tâm mình, không thể trông cậy vào ai khác, nhất là trông vào tài nấu bếp của một bà mẹ.

Nếu gia đình bạn Ngọc Hạnh để ý tới nội tâm của bà mẹ, sẽ có thể nhìn ra thêm khía cạnh khác, qua sự đổi thay của bà. Có thể là do đi chùa, tâm hồn bà phong phú ra, suy tư sâu sắc hơn, bà nghĩ tới được những vấn đề mà trước kia bà chưa từng nghĩ tới, cho nên hành xử khác trước.

Chúng tôi được biết có những gia đình đã tưởng tượng sai về sự đi lễ của bà mẹ, coi như là “ham vui”, hoặc là “già rồi trở thành mê tín”, hoặc “đến chùa gặp bè bạn để khoe của, khoe con”, mà thường là không tìm hiểu coi sinh hoạt ở chùa của mẹ như thế nào, không nhìn vào đời sống nội tâm của mẹ, đã biến chuyển ra sao.

Thực tế, do đi chùa, Phật tử được tiếp cận với giáo pháp nhà Phật, đôi khi do các vị sư giảng, nhưng phần lớn là do bạn đạo trao truyền cho nhau những câu chuyện, những băng giảng, những sách báo có những bài giáo lý. Từ những nguồn tài liệu này, một số vị đem về nhà, nhưng trước sự coi thường của chồng con đối với đạo, các vị ấy lặng lẽ đọc, lặng lẽ nghe băng, nhờ vậy, tâm hồn có sự chuyển hóa, hiểu được những phần cốt tủy của nhà Phật, về sự bớt làm điều xấu ác, tăng làm điều tốt lành và tụng kinh niệm Phật để thanh tịnh hóa tâm ý.

Trong những bài giảng, rất nhiều đề tài được đặt ra. Vì đạo Phật xây dựng trên hai cột trụ chính là Từ Bi và Trí Tuệ, cho nên đề tài Từ Bi thường được nói tới nhiều nhất. Cụ thể như trong một dịp gặp gỡ các tâm lý gia Hoa Kỳ, đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng thảo luận với họ về đề tài Từ Bi, được trình bày trong cuốn “Worlds in Harmony, Dialogues on Compassionate Action”. Chúng tôi xin trích dịch mẩu đối thoại giữa Ngài và tiến sĩ Joanna Macy, một nhà bảo vệ môi sinh, sáng lập viên của Nuclear Guardianship Project, như sau:
…”…
Bà Joanna Macy hỏi:

- Thưa Ngài, tôi xin hỏi Ngài về trường hợp khác, trong đó những con vật rất đau đớn, đó là tại các trại chăn nuôi. Ðể có thể thay đổi lề lối làm việc ngõ hầu giảm thiểu sự đau đớn cho những sinh vật này, chúng ta cần phải nhìn tận mắt nỗi đau đớn của chúng. Nhưng đối với phần lớn chúng ta thì dường như sự nhìn vào nỗi đau đớn đó là điều quá sức chịu đựng nổi, cho nên chúng ta muốn nhìn đi phía khác để lảng tránh sự thực. Ngài mới giảng rằng phải thực tập hành động không lảng tránh mà nhìn sâu vào nỗi đau để không còn sợ nó nữa. Vậy nếu có thể, xin Ngài giảng rõ hơn, nhất là trong tinh thần liên đới cảm thông với các loài sinh vật đàn em đang bị hành hạ này chăng?

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:

- Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ con vật bị giết để làm đồ ăn cho loài người. Ðiều đó thật là đáng buồn! Loài người chúng ta có thể không cần phải ăn thịt mà vẫn sống, nhất là trong thế giới tân tiến ngày nay. Chúng ta có quá nhiều thực phẩm bằng rau đậu và nhiều loại đồ ăn khác, cho nên chúng ta có khả năng và bổn phận cứu sống hàng nhiều tỷ sinh mạng. Tôi đã thấy có nhiều cá nhân và nhiều nhóm người tích cực yểm trợ các hoạt động bảo vệ quyền sống của loài vật, những người này đều ăn chay trường. Thật là tuyệt !

Có những sự giết chóc thật là phí phạm. Thí dụ săn bắn và câu cá, coi như là trò thể thao, đúng là vô nghĩa lý. Nếu giết vì lý do khác, thí dụ đánh cá để làm thực phẩm, thì còn có thể hiểu được hơn. Nhưng có lẽ điều đáng buồn nhất là tại các trại chăn nuôi. Những con vật đáng thương sống ở đó thật là đau khổ. Bản thân tôi đã từng tới thăm một trại nuôi gà tại Nhật, nơi người ta nhốt hai trăm ngàn con gà mái suốt hai năm trường, chỉ cốt để cho chúng đẻ trứng. Chúng là những kẻ tù đầy trong hai năm ròng rã đó. Rồi sau hai năm, khi không còn khả năng sinh sản, thì chúng bị bán đi để giết lấy thịt. Thật là kinh hoàng, đáng buồn quá! Chúng ta phải hỗ trợ những người có lòng muốn giảm thiểu cung cách đối xử bất công này.

Thật là tai hại nếu chúng ta không quan tâm tới nỗi đau đớn của bất cứ chúng sinh nào. Ngay trong chiến tranh, chúng ta cần nhận thức được nỗi đau đớn của đối phương và sự áy náy trong lòng mình vì đã gây đau thương cho họ thì tốt hơn…”…


Ðó là những lời khuyên của một tu sĩ Phật giáo về sự phát triển lòng từ bi, mà do tiếp cận với đạo, người Phật tử đã nhận thức được.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin minh xác rằng ăn chay trường không phải là điều bắt buộc của người Phật tử. Ngay trong thời đức Phật, Ngài và chư đệ tử cũng không ăn chay trường, mà dùng những thức ăn do thí chủ cúng dường, dù là có thịt. Miễn là người ăn không trông thấy con vật bị giết, không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết, và không nghi rằng nó bị giết với mục tiêu cho mình ăn, như thế, những thịt này được gọi là tịnh nhục. Tục lệ đó còn được chư tăng hệ phái Nguyên Thủy duy trì cho tới ngày nay.

Ðối với hệ phái Bắc Tông thì chỉ các tu sĩ mới ăn chay trường, còn cư sĩ tại gia thọ trì Ngũ Giới, thì Giới Sát chỉ cấm giết, chứ không cấm ăn thịt. Tuy nhiên, nhà Phật cũng khuyến khích Phật tử giảm bớt ăn thịt để cho súc vật đỡ bị giết. Vì thế mới có chế độ ăn chay kỳ, thí dụ mỗi tháng ăn chay bốn ngày, gọi là tứ trai, ăn chay sáu ngày, gọi là lục trai, ăn chay mười ngày, gọi là thập trai, ăn chay trọn một tháng gọi là nguyệt trai, vân vân. Tóm lại, đa số Phật tử không ăn chay trường.

Nhưng hiện nay riêng trong nước Mỹ, theo thống kê của hội bảo vệ súc vật, có mười hai triệu người ăn chay trường. Phần đông những người này không phải là Phật tử, họ ăn chay vì lý do sức khỏe, hoặc vì lòng trắc ẩn, thương xót loài vật, không muốn chúng bị đau đớn suốt cuộc đời cho tới lúc chết, chỉ vì lý do mình muốn ăn thịt. Chúng tôi xin trích dịch ý kiến của tác giả David A. Gabbe, viết trong cuốn “Why Do Vegetarians Eat Like That?” như sau:

…”… Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết!

Và trong khi những nhân viên lò sát sinh, có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đạp, những cái quất lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh, chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.

Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.

Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào — thường là cách rẻ tiền nhất –, bất kể là man rợ hoặc tàn ác. Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu — thường là một thanh sắt bổ xuống sọ –, hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác, trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt….”…

Trên đây chỉ là trích đoạn ngắn ngủi của bản trường ca bi thảm mà những con vật tội nghiệp phải chịu đựng suốt một cuộc đời. Lão Tử đã nói “Ta khổ vì ta có cái thân”. Chỉ vì có cái thân làm loài vật, mà những con vật đáng thương phải chịu một cuộc đời đầy đọa, đau đớn từ lúc sinh ra cho tới lúc chết.

Nhưng còn những con vật không bị tù tội, được rong chơi bơi lội như loài cá thì sao? Ca sĩ Cao Thái có bài thơ “Con Cá”, như sau:

Tôi là con cá dưới sông
Có cha, có mẹ, có chồng có con
Trông con trông mỏi trông mòn
Trông khi họp mặt coi còn đủ không
Ngày ngày dong ruổi chạy rong
Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
Bữa kia nghe tiếng con tôi
”Mẹ ơi, con đã mắc mồi rồi me”
Lạy Trời lạy Phật chở che
Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
Thành người tôi sẽ ước mơ
Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.

Biết đâu lũ cá chẳng vừa bơi vừa nguyện ước:

- “Xin cho chúng tôi đừng gặp loài người” ?
Trích Thư viện Hoa Sen

Monday, March 17, 2014

66 câu học Phật làm chấn động thiền ngữ thế giới

66 câu học Phật làm chấn động thiền ngữ thế giới

Friday, March 7, 2014

Khi bạn nhìn mọi thứ bằng một đôi mắt mới



Chuyện Cấm Cười - Theo Đinh Hữu/Truyện ngắn hay.net


Con tàu bắt đầu chuyển động, chật kín bởi đủ mọi loại người : từ những công nhân viên chức đến các cô cậu sinh viên trẻ. Ngồi cạnh cửa sổ là một ông lão cùng người con trai khoảng ba mươi tuổi. 

Gương mặt anh tràn ngập bởi niềm ham thích khó tả: Anh thật sự bị kích động bởi cảnh sắc bên ngoài.

“ Bố ơi, nhìn này, những cái cây này như đang chuyển động, thật là đẹp quá!!! “

Lối cư xử kiểu này của người con trai ba mươi tuổi khiến mọi người thấy thật kỳ quặc. Người ta bắt đầu rì rầm nho nhỏ.

“Người kia trông như bị loạn trí…” Một người đàn ông thì thào với vợ của mình.


Đột nhiên trời đổ cơn mưa, từng giọt từng giọt lặng lẽ rơi xuống đầu các hành khách qua khung cửa mở rộng. Người con trai ba mươi tuổi đầy hạnh phúc :

“Cha ơi, đẹp quá… Mưa đẹp quá…”

Một người phụ nữ phát cáu. Cơn mưa đang làm hỏng chiếc áo mới của cô.

“Ông có thấy trời đang mưa không? Nếu con trai ông có vấn đề thì nên đưa đi điều trị thần kinh chứ không phải ở đây để làm phiền người khác nơi công cộng”

Người con trai giật mình quay lại, đôi mắt nãy vốn vui tươi chợt như phủ một mảng sương mờ mịt.


Ông bố ngượng ngùng đôi chút rồi trả lời bằng giọng trầm trầm :

“Chúng tôi đang trên đường từ bệnh viện trở về. Con trai tôi vừa ra viện sáng nay. Nó bị mù bẩm sinh và mới được thay giác mạc. Cơn mưa…và mọi thứ đều quá mới mẻ với nó. Xin mọi người thứ lỗi.”

Những thứ ta thấy hay cảm nhận đều chỉ bắt nguồn từ quan điểm bản thân cho đến khi ta biết sự thật. Giống như một loài hoa, có thể là loa kèn, thược dược, hướng dương, v..v.. , dù ta có biết tên cũng như màu sắc, mùi vị,…, ta cũng chỉ “biết” nó qua chính cảm nhận chủ quan.


Khi bạn nhìn mọi thứ bằng một đôi mắt mới

Một cái tên hay vẻ bề ngoài chẳng cho ta “hiểu” gì về bản chất thật sự.

Ta sống với đôi mắt trời sinh, có mấy ai tự cho đó là món quà? Ta chỉ sợ bẩn quần áo, có mấy khi để ý cơn mưa đẹp đẽ nhường nào?

Bởi ta chỉ để trong mắt những gì ta muốn…

Giá như, chỉ giá như thôi, ai cũng nhìn bằng đôi mắt như mới được sinh ra lần đầu…


Tuesday, February 18, 2014

Lò sát sinh trâu bò


 Chuyện sinh nghề tử nghiệp ở làng sát sinh số 1 Việt Nam

Chuyện Cấm Cười - Theo Soha

 

 “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Người nông dân vẫn thường xuýt xoa khen trâu là loài động vật hiền lành, chăm chỉ, thậm chí còn “làm thật ăn giả” vì nó chỉ ăn cỏ, ăn rơm rạ mà làm ra lúa gạo, tiền của nuôi sống con người, giúp người nông dân nên cơ nghiệp.

 

Thời phong kiến, các vị vua chúa vẫn thường ra lệnh cấm giết mổ trâu, bò để giữ gìn sức kéo, phục vụ nông nghiệp.

Trên vùng cao, khí trời buốt giá, bà con dân tộc vẫn nơm nớp lo cho “con của” hơn cả con người. Sợ trâu chết cóng, họ thường lấy bao tải mặc cho chúng, rồi căng bạt, sửa chuồng, đốt lửa sưởi ấm cho chúng vào những ngày giá lạnh.

Vậy mà, ở giữa miền nông nghiệp trù phú, có một làng chuyên giết thịt trâu, bò đã tồn tại mấy chục năm nay - làng Phúc Lâm (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).

Những câu chuyện “sinh nghề tử nghiệp” đau lòng vẫn cứ diễn ra như cơm bữa ở ngôi làng này, khiến người ta không khỏi nghĩ rằng: Khi con người nỡ đem trâu, bò - loài vật nuôi thân thiết của mình - ra đập chết, xẻ thịt, róc xương, lột da thì “cái nghiệp” phải hứng chịu cũng nặng nề lắm.

Trâu rừng “làm loạn”

Theo chân một vài người quen về làng Phúc Lâm, chúng tôi không chỉ được tận mắt chứng kiến cảnh người ta dắt trâu từ khắp các nơi về nhốt ở chuồng nhà mình, đợi đến giờ giết thịt, mà còn được nghe nhiều câu chuyện hãi hùng từ cái nghề sát sinh này.

Dù mang lại nhiều lợi nhuận, kinh tế của nhiều gia đình cũng phất lên từ con trâu, con bò, thế nhưng, đánh đổi lại, những người làm nghề này phải vất vả cực nhọc, ngày nào cũng thức thâu đêm suốt sáng.

Một bác lái trâu nói đùa: “Giờ hoàng đạo của cái nghề này thường vào ban đêm, để sáng ra mới có thịt tươi mà bán chứ…”.

Dăm ba năm trở lại đây, dân làng Phúc Lâm đã chứng kiến bao cảnh tượng hãi hùng mà tai họa chính từ những lò giết mổ mà ra.

Các lái trâu đi khắp các miền tìm trâu, bò đưa về làng giết thịt. Họ thường lên mạn rừng núi, nơi có nhiều trâu, bò được chăn thả tự nhiên và hoang dã nhất. Họ mang về làng Phúc Lâm đủ các giống trâu, bò, nhưng đáng sợ nhất là những con trâu được thả tự nhiên trên rừng.

Bình thường chúng rất hiền lành, nhưng khi về đến Phúc Lâm, như có linh tính, chúng cảm nhận được mùi “tử khí”, mùi “sát sinh” nặng nề ở làng nghề này, chúng bỗng nhiên như “phát điên”, sùi bọt mép, mắt đỏ ngầu, giằng đứt dây chão rồi lao như tên bắn về phía con người.

Một người dân làng Phúc Lâm chua xót kể: “Ở cái làng này, những vụ tai nạn gây thiệt hại về người còn kể ra được chứ chuyện trâu nó lồng vào nhà húc đổ tan tành bàn ghế, giường tủ là chuyện xảy ra như cơm bữa…”.



Di ảnh của bà Nguyễn Thị Ẩm - nạn nhân đã thiệt mạng vì bị trâu húc.
Năm 2007, một vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra làm rúng động cả làng Phúc Lâm. Con trâu ở lò mổ nhà bà Nụ sổng chuồng, giật phăng dây rợ, quăng mình về phía trước, phầm phập lao vào làng.

Nó chạy từ ngoài phía đình làng vào tận sân nhà ông Đỗ Văn Quy (SN 1946) - chủ một lò mổ lớn. Phía sau, chủ trâu rong xe máy rượt theo, con trâu thấy tiếng xe máy, đèn xe sáng choang lại càng trở nên hung hãn.

Trời nhập nhoạng tối, bà Nguyễn Thị Ẩm (vợ ông Quy) đang cho gà vịt ăn thì bị con trâu dữ xông vào húc toang bụng.

Người nhà ông Quy nhớ lại: “Cả nhà tôi đưa bà ấy đi Viện 10 cấp cứu, mổ ngay trong đêm nhưng đã giập hết cả lá lách rồi. Bà ấy bất tỉnh nhân sự, 3 hôm sau thì mất. Trước nhà tôi cũng làm cái nghề giết mổ trâu, bò này, chẳng biết người ta nói có phải không nhưng chắc là do cái nghề nó bạc bẽo quá…”.

Đau xót và thương nhớ người vợ quá cố, một thời gian sau, ông Quy cũng đổ bệnh, bị đột quỵ, đi lại vô cùng khó khăn, những khi trái gió trở trời lại nằm đâu nằm đấy trên giường, chỉ thều thào nói chuyện.

Gần một năm sau cái chết đau lòng của bà Ẩm, tai nạn nghề nghiệp lại giáng xuống gia đình anh Đỗ Văn Tư (SN 1986).

Lò mổ của gia đình anh cũng thuộc cỡ lớn ở làng. Anh Tư chính thức theo nghề lái trâu từ năm 17 tuổi, anh bảo, đó là cái nghề “mua bằng mắt, bán bằng cân” nên lỗ là thường.

Anh bôn ba khắp nơi để tìm chọn trâu về phục vụ cho cái lò mổ lớn đã nuôi sống cả gia đình. Thế rồi, chính con trâu lại là thủ phạm gây ra cái chết thê thảm của ông Dự - chú rể của anh Tư và làm cho mẹ anh - bà Đỗ Thị Vượng bị thương nặng. Vốn liếng, gia sản theo đó mà tan tành.

Hôm ấy, ông Dự đang cho trâu uống nước, con trâu ấy thuộc giống trâu “Thổ”, bắt ở rừng núi phía Bắc mang về, thấy người bỗng rống lên, giãy đạp đứt tung dây chão.

Nó lao vào húc ông Dự những đòn chí mạng. Khi ấy, bà Vượng đứng ở sân thấy vậy hốt hoảng kêu cứu, con trâu nghe thấy tiếng của bà, tiếp tục lao như điên vào bà Vượng.

Anh Tư không giấu được đau đớn, hãi hùng khi nhắc lại sự việc kinh hoàng ấy: “Tai nạn hồi ấy ghê quá. Hôm đấy chính tôi lên đón chú ấy xuống, đưa chú ấy về nhà xong thì mình đi đón hàng, đi xem trâu ở quanh làng này mà.

Chú Dự bị nội thương, gan, phổi, lá lách dập hết. Con trâu móc sừng vào sườn, thủng lá lách, mất bao nhiêu là máu, người nhà tiếp cho phải đến 5, 6 lít máu mà chú ấy không sống nổi… 

Chú ấy là người làng bên, nhưng quê ngoại chính là ở Phúc Lâm này. Mẹ tôi cũng bị thương nặng, phải nằm viện rất lâu, vì bị gãy xương hông”.

Cũng sau tai nạn khủng khiếp ấy, gia đình anh Tư quyết định đóng cửa lò mổ. Phần vì vốn liếng đã tập trung để chạy chữa cho mẹ, phần vì muốn giảm đi cái nghiệp nặng nề của gia đình mình vì sát sinh.

Anh Tư tâm sự: “Nhà tôi nghỉ làm lò mổ vì giai đoạn ấy phải dành thời gian chăm sóc người nhà, không có ai đi bắt hàng cả. Làm cái nghề này là phải có người đi mấy ngày trời để lùng trâu ở Cao Bằng, Bắc Cạn… Mà làm đêm thì vất vả vô cùng”.

Ở làng Phúc Lâm tai nạn thì nhiều. Có khi, nhiều trâu sổng chuồng, chạy ra đường, gia chủ cũng “cắn răng” mà bỏ luôn trâu là chuyện bình thường.

Họ sợ con trâu chạy sang làng khác, húc người, gây tai nạn thì số tiền họ phải “đền” sẽ gấp nhiều lần giá trị con trâu ấy. Ở làng này, số trâu bị “bỏ rơi” vô chủ kiểu đó cũng nhiều lắm rồi.

Trước kia, cũng ở cùng xóm nhà anh Tư, có trường hợp trâu “phát điên”, chạy ra phía đình Trám, rồi lao ra cánh đồng.

Con trâu hung hãn đến nỗi, cứ nhìn thấy người cách cả trăm mét là nó lao vào húc, không một ai dám lại gần nữa. Chủ nhà kia hãi hùng, sợ con vật sẽ gây nhiều tai nạn, họ đã phải nhờ đến chính quyền, nhờ quân đội mang súng ra bắn chết nó ngay giữa đồng.

Còn con trâu gây ra đại họa cho nhà anh Tư, sau khi “gây án”, nó chạy vào chuồng lợn của nhà bên cạnh. Rất nhiều lái trâu có kinh nghiệm và thanh niên trai tráng của làng được tập trung lại, họ phải bàn bạc nhau, rồi cầm chiếc sào dài 4 mét, ròng dây điện vào giật chết con vật hung hãn.

Anh Tư bảo, sau những vụ án kinh hoàng như thế, người làm nghề bây giờ cũng đã cẩn thận hơn nhiều, chuồng trại toàn làm bằng bêtông và gò sắt rất kiên cố, chứ không dùng cọc tre như trước nữa.
Gặp phải trường hợp trâu phát cuồng cũng không gây nguy hiểm nữa vì họ đã chão đầu, chão mũi con vật cẩn thận.

Ấy thế mà, giữa năm 2012, bà Nguyễn Thị Hậu - là chủ 1 trong 6 lò mổ lớn của làng - lại tiếp tục là nạn nhân bị trâu húc. Bà Hậu cũng bị chiếc sừng dài ngoẵng của con trâu rừng đâm thủng lá lách, phải nằm điều trị ở bệnh viện cả tháng trời.

Nghiến răng chịu đựng

Theo trưởng thôn Đỗ Văn Truật (SN 1956) thì làng Phúc Lâm có khoảng gần 500 hộ dân, trước kia nghề giết thịt trâu, bò chiếm đến 1/3 số hộ dân, nhưng đến giờ làng chỉ còn khoảng hơn chục hộ tiếp tục hành nghề.

Tuy nhiên, hơn chục cái lò mổ này vẫn “đảm bảo” công ăn việc làm và thu nhập cho khoảng 1/5 số hộ trong làng. Dân làng đến làm thuê tại các lò mổ hoặc trực tiếp là người phân phối các sản phẩm đó ra thị trường.



Xương trâu đắp đống trên bờ và nổi lềnh phềnh dưới hồ nước đặc quánh, váng mỡ.

Một lò mổ ở làng Phúc Lâm.
Mỗi ngày, những tay đồ tể khét tiếng ở làng Phúc Lâm vẫn đều đặn “tiễn” khoảng 100 chú trâu, bò về chầu trời.

Dân làng phải nghiến răng chịu đựng, ngày ngày sống trong cảnh ngõ xóm nồng nặc mùi phân, mùi nước tiểu trâu, bò, hôi thối cực độ. Những đàn trâu, bò từ khắp các nơi được các lái trâu dắt díu về làng.
 
Ông Đỗ Văn Truật - Trưởng thôn Phúc Lâm - nói như than thở: “Môi trường sống của chúng tôi lâu nay gặp quá nhiều cái khủng khiếp, mà hướng giải quyết thì khó khăn quá.

Chưa giết mổ tập trung được, rải rác các xóm đều có lò mổ, thành thử các rãnh nước quanh làng của chúng tôi bị ô nhiễm lắm. 

Máu, mỡ, phân trâu, bò, rồi cả nước nhiễm mặn từ việc sử dụng quá nhiều muối cứ tống trực tiếp ra các cống rãnh, rồi chảy thẳng ra ao hồ. Việc nhắc nhở càng khó khăn hơn vì họ không phải là anh em họ hàng thì cũng là láng giềng gần gũi…”.

Người ta bảo, đi qua cái làng nghề nào cũng nhận ra ngay bởi người ta hay trưng bày sản phẩm của làng mình ra mặt đường, quốc lộ để giới thiệu quảng bá sản phẩm của quê hương cho khách qua đường dừng lại xem.

Ấy thế mà, đi qua làng Phúc Lâm, không ai dám dừng chân một chốc bởi cái sự hôi thối kinh hoàng bốc lên ở những ao hồ ven đường. Hằng hà sa số những bao tải, những đống lớn chồng bé xương trâu xương bò cứ “dàn hàng ngang” ở rìa đường, nằm chỏng chơ dưới mặt ao váng mỡ.

Trước đây hệ thống ao hồ quanh làng này là nơi nuôi cá, sau một thời gian hứng chịu nước muối từ việc ướp da, rồi ngâm xương trâu, bò giờ cũng chỉ còn vài đám bèo tây sống sót. Từ đó, người làng quyết định “di dời” việc ngâm xương trâu, bò ra hệ thống ao hồ đầu làng ven quốc lộ, “tra tấn” khách qua đường!

Những “núi” xương nằm ven quốc lộ ấy đợi thời gian làm mục ruỗng hết thịt và tủy, khi còn trơ lại cái xương trắng, người dân tập trung lại rồi mang đến địa phương nào đó để “sản xuất” tiếp.

Thấy chúng tôi ngó ngang ngó dọc, chụp ảnh này nọ, có người chua chát bảo: “Chúng tôi chịu thối, chịu bẩn thì các bác mới có thức ăn cho chăn nuôi, mới có cái trống mà đánh, có cái lược sừng mà chải tóc chứ…”.

Ngẫm ra thì họ nói chẳng sai, bởi các phụ phẩm từ việc giết thịt trâu, bò như sừng, da, xương… đều được tận dụng “hết cỡ”.

Thế nhưng, việc họ vô tình hay hữu ý “đầu độc” khiến ao hồ, ruộng đồng ô nhiễm đến mức tưởng chừng không thể xử lý nổi, hay để vùng không khí xung quanh “bức tử” chính đồng bào của mình mỗi khi họ đi ngang qua con đường này quả thực là một điều nhẫn tâm.

Đau lòng hơn, dân làng Phúc Lâm và con cháu họ chính là những nạn nhân trực tiếp của sự ô nhiễm khủng khiếp này. Như thế chẳng là tự làm mình “chết dần chết mòn” trong cuộc kiếm tìm miếng cơm manh áo hay sao?

Từ năm 2003, Chính phủ Việt Nam đã đưa Phúc Lâm vào danh sách những làng nghề ô nhiễm nhất Việt Nam cần được xử lý triệt để.

Tuy nhiên sau 10 năm nỗ lực tìm giải pháp và cố gắng giải quyết thì môi trường tại đây vẫn chưa được cải thiện. Người dân Phúc Lâm tiếp tục sống chung với ô nhiễm “ba bề bốn bên”, từ ô nhiễm nguồn nước đến bầu không khí…

Đi “tham quan” trường Tiểu học Phúc Lâm, chúng tôi mới thấu nỗi khổ của thầy và trò ở ngôi trường này, khi bên ngoài cửa sổ lớp học không phải là cây xanh, hoa thắm mà là ao hồ đen kịt, phân trâu, bò đắp đống, hôi thối không sao tả xiết.

Sunday, February 2, 2014

Lợi ích của việc ăn chay



  Chuyện Cấm Cười / Pmanth


Hầu hết mọi người trên cõi đời này ai cũng đều thích ăn thịt, cũng bởi vì thế mới xuất hiện và tràn lan đủ các loại bệnh tật... 

Tạo hóa tạo ra con người với hàm răng bằng, chỉ để ăn ngũ cốc. không phải để ăn thịt. 

 Còn loài động vật với răng nhọn có thể ăn thịt sống, tuy nhiên con người mặc dù không ăn được thịt sống đã nghĩ ra cách nấu lên cho chín và chế biến đủ mọi kiểu cách để ăn được ngon hơn. Và cũng vì ăn những thức ăn không đúng và thích hợp với cơ thể, nên chúng ta đã mắc nhiều loại bệnh tật kỳ quái như ung thư .... khi ăn nhiều thịt của các loại động vật, con người cũng sẽ có nhiều dã tâm và thú tính gần giống như chúng.
          
Thí dụ: Tại sao có những người cha có thể cưỡng dâm đứa con gái bé bỏng do chính máu huyết của mình tạo ra, giống như loài súc vật. Mà thiên hạ thường chửi rủa những bậc cha mẹ như vậy là "mặt người, mà lòng thú ".

           * Các chứng ung thư....:

 Khoa học đã chứng minh được các loại thịt mà chúng ta ăn vào hằng ngày đã là nguyên nhân gây ra những bệnh ung thư đủ loại ....nhất là ung thư ruột già.

           * Cao huyết áp :

Khi ăn nhiều thịt, lượng mỡ trong máu tăng cao, thành động mạch sẽ sớm bị xơ vữa chai cứng, hẹp lại, đưa đến việc cao huyết áp, cao mỡ, lâu ngày gây ra bệnh tai biến mạnh máu não, và nghẹt tim.

           * Bệnh thống phong ( gout ) :

Ăn nhiều thịt đỏ làm cơ thể tích tụ nhiều chất acid uric, nguyên nhân gây ra chứng bệnh gout, nếu trong cơ thể có lượng acid uric tăng cao, tích tụ ở các khớp xương gây ra bệnh gout làm cho người bệnh rất đau đớn.

          *  Bệnh tim mạch

Ăn nhiều thịt đỏ cũng là nguyên nhân gây ra cao mỡ, nguyên nhân dẫn đến chứng cao huyết áp, khi sự tuần hoàn của máu bị nghẽn lại do tích tụ quá nhiều mỡ, trái tim phải làm việc rất vất vả lâu ngày bị suy yếu không làm việc được nữa, bệnh tim mạch.

Nếu ăn thịt có hại cho sức khỏe như vậy, thì việc ăn chay, chỉ thuần túy là các loại rau củ và trái cây cũng vẫn có đầy đủ chất bổ dưỡng và còn tốt và lợi ích hơn nhiều so với các loại thịt đỏ và hải sản.

Nếu thịt và hải sản có nhiều protein ( chất đạm dơ ) thì trong các loại đậu và hạt của rau trái lại chỉ chứa toàn là " chất đạm sạch ". Ngoài ra, ăn chay chúng ta được nuôi dưỡng với sự tinh khiết và thanh đạm của rau trái hoa quả, làm phát sanh lòng từ bi của nhà Phật, biết yêu thương tất cả muôn loài, những động vật, không có khả năng chống cự và tự bảo vệ mạng sống của chúng, nhưng chúng cũng biết đau đớn và tham sống sợ chết như chúng ta.

 Nếu bạn muốn hiểu sự thật như địa ngục của các lò mổ thịt, hãy đến đó để chứng kiến ? Những tiếng gào khóc thật thảm thiết, tôi chợt tưởng tượng, nếu tôi, đang ở trong thảm trạng của những con vật ấy, và đang bị chọc tiết cắt xẻo, chao ôi ! thật là kinh khủng, khi hiểu được nỗi khủng khiếp và đau đớn cùng cực của các con vật đáng thương đó như thế nào!  Tự nhiên chúng ta không còn cảm thấy muốn ăn bất cứ món thịt hay cá nào nữa.

Nếu mọi người ai cũng ăn chay trường, và có lòng thiện tâm biết cảm nhận và thương yêu tất cả muôn loài vạn vật. Thì những oan nghiệt, khổ ải, vì tham lam sân giận, si mê, ham danh lợi, hám quyền  lực.. thích tước đoạt tài sản của kẻ yếu. Tạo ra biết bao thảm trạng cho nhân loại, những cuộc chiến tranh, chia ly, chết chóc, và hủy diệt của loài người cứ tiếp tục như thế, cũng như những tiếng gào thét vì đau đớn của triệu, triệu các con vật bị mổ thịt hằng đêm.
 
Có một tiên đoán rất đáng khích lệ, là đến năm 2030 người ta sẽ không còn thích ăn thịt động vật nữa, vì khoa học ngày càng chứng minh được nguyên nhân của rất nhiều bệnh tật, là do ăn thịt đỏ, và việc ăn chay sẽ trở nên rất phổ biến.  ( PMANTH )

Hãy là chủ nhân đừng bao giờ làm nô lệ cho tiền bạc




Pmanth/Chuyện Cấm Cười    
 
Uy lực của đồng tiền, nếu biết sử dụng, thì những lợi ích to lớn do nó mang đến, không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên bên cạnh đó, tiền bạc cũng có thể tàn phá, và hủy diệt con người thật kinh khủng.  Đừng bao giờ để tiền bạc trở thành chủ nhân của bạn.

nếu bạn là nô lệ của đồng tiền, thì thật tội nghiệp cho bạn, vì cuộc đời của bạn sẽ thật sự biến thành địa ngục.
      

 Khi tiền bạc là chủ nhân của con người .

Con người sẽ bị tiền bạc sai khiến, vì tiền bạc người ta sẵn sàng làm những việc tồi tệ nhất, để có được nó.  Các bạn cũng đã từng nghe hay đọc được những tin tức về những vụ lường gạt vô tiền khoáng hậu, của vài tài phiệt, tại các thị trường tài chánh của Mỹ, trong những năm gần đây, với số tiền kếch sù, đã lên đến vài tỷ USD.

Đó cũng là mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu nạn nhân, có phải chăng tiền bạc đã là nguyên nhân sai khiến những tài phiệt này hành động như vậy?

Và cũng chính vì lòng tham một chút lợi nhỏ!  mà những nạn nhân đã bị mất mát  quá lớn?

 Hay những vụ giết người thật kinh hoàng và dã man để cướp của.  Những án mạng thật kinh tởm của những tên cướp. Tại sao? Có phải những con người đó? Đã bị tiền bạc sai khiến, làm lu mờ lý trí, và mất hết nhân tính.
      
 Nếu tiền bạc là chủ nhân của một thương gia thì những thương gia này có thể vì tìền, mà sẵn sàng làm những việc như, mua đồ giả, nhưng bán lại với giá của đồ thật.

 Hoặc nếu tiền bạc là chủ nhân của một luật sư, thì tiền bạc cũng có thể sai khiến luật sư kia tranh cãi cho một tên giết người, nhưng có nhiều tiền được trắng án, trở thành vô tội, còn người vô tội, nhưng lại không có tiền, biến thành kẻ sát nhân.
     
Tiền bạc cũng sai khiến một người bạn, sẵn sàng, hãm hại một người bạn, để chiếm đoạt những lợi lộc hay quyền thế.

Cũng vì tiền bạc, không hiếm những kẻ lừa thầy, phản bạn, những kẻ đã giết cha, hại mẹ, giết vợ, giết chồng, hay hãm hại chính con cái của họ để có được tiền bạc mà họ mong muốn, rồi hậu quả của những việc làm tồi tệ do tiền bạc sai khiến đó, sẽ đưa những con người như vậy đi đến sự hủy diệt của chính bản thân họ.
      
Nếu bạn là chủ nhân của tiền bạc và biết sai khiến tiền bạc thì thế nào ?

 Nếu bạn có nhiều tiền bạc và bạn muốn là chủ nhân của tiền bạc, thay vì làm nô lệ của nó, vậy thì bạn hãy ra lệnh và sai khiến tiền bạc phục vụ cho bạn.
    
  Phục vụ những nhu cầu cần thiết hằng ngày của bạn như :  hãy mang một quãn gia đến để săn sóc chồng, vợ, con cái của bạn, nấu nướng, dọn dẹp và giúp nhà cửa của bạn luôn sạch sẽ, ngăn nắp để mỗi khi đi làm về, bạn có thể nghỉ ngơì và hưởng thụ cuộc sống.

Đó là bạn đã làm chủ của tiền bạc và dùng tiền bạc để phục vụ cho gia đình bạn . Hãy dùng tiền bạc để được phục vụ và chia sẻ công việc của bạn cho nhiều người khác.
   
 Có nhiều người tuy họ có rất nhiều tiền, có thể thuê mướn  được một hay nhiều người phụ giúp cho họ, nhưng họ đã không làm như vậy, họ luôn muốn tự làm tất cả mọi việc, để có thể tiết kiệm được mỗi tháng, thêm một số tiền nhỏ, họ không muốn tiêu xài gì cho chính bản thân! mà chỉ muốn dành dụm, tiếp tục làm việc và cất giữ tiền bạc, rồi cố gắng làm việc nhiều hơn, để hy vọng có thêm nhiều tiền bạc và tiếp tục dành dụm.

Thật là một suy nghĩ nông cạn, cho đến một ngày!  Khi họ có thật nhiều của cải và tiền bạc nhưng họ lại nằm trên đống tiền bạc của cải đó, với đủ mọi thứ bệnh tật và không thể nào tiêu xài, hay hưởng thụ cuộc sống được, vì sức khỏe đã cạn kiệt.

Tại sao bạn lại có thể đối xử quá khắc nghiệt với chính bản thân của bạn như vậy?  Bạn luôn muốn bản thân bạn làm việc không ngừng nghỉ, để kiếm được thật nhiều tiền, nhưng lại không cho chính bản thân bạn được hưởng thụ bất cứ một điều gì! Thật là một việc vô cùng phi lý.    


 Hãy dùng tiền bạc để bạn có thể sống ở  một ngôi nhà thích hợp, với những tiền bạc mà bạn có

 Hãy dùng tiền bạc để làm cho bản thân bạn và những người thân yêu của bạn được hạnh phúc và sung sướng


 Hãy dùng tiền bạc để chia sẻ cho những người hoạn nạn, đói khổ, tật bệnh


Hãy dùng tiền bạc để nhân cách của bạn luôn được tỏa sáng bạn nhé!.
  

Dù bạn có thật nhiều tiền bạc và của cải. Thì cuối cùng, khi từ giã cõi đời giả tạm này, bạn cũng chỉ ra đi với hai bàn tay trắng, có chăng là những tội lỗi và phước đức mà bạn đã tạo ra khi sinh thời, thì có thể đem theo được mà thôi.

 

Sunday, January 19, 2014

Độc đáo món chay xứ Huế

 


 Chuyện Cấm Cười - Theo Tôn Thất Thọ/Tuần Báo Mới


www.chuyencamcuoi.blogspot.com - Nói đến cơm chay Huế, trước hết phải nói đến cách ăn chay tại các chùa ở Huế. Hàng tháng, vào những ngày lễ, nhà chùa thường làm cỗ chay đãi Phật tử bốn phương. Gọi là cỗ nhưng món chay trong chùa không cầu kỳ, chỉ đạm bạc với tương, muối, rau dưa...toàn là những sản vật, thảo mộc trong vườn chùa do các vải cùng những Phật tử nhiệt thành đến giúp.Bữa cơm chay đạm bạc nhưng luôn thu hút rất nhiều người.


Đối với người dân Huế, có hai kiểu ăn chay, ăn chay trường và ăn chay kỳ.

Ăn chay trường là ăn chay quanh năm suốt tháng, không ăn các loại thực phẩm có nguồn gốc từ các loại động vật, không ăn thịt, không ăn trứng.

Ăn chay kỳ là ăn chay định kỳ vào ngày mồng 1 và ngày rằm âm lịch. Nhưng cũng có người ăn năm, tháng, hoặc xen kẽ giữa bữa chay và bữa mặn.

Người Huế định ngày chay trong tháng là trai kỳ, ăn chay 2 ngày rằm, ngày mồng một (hoặc ba mươi) gọi là nhị trai, ăn chay 4 ngày trong tháng gọi là tứ trai. Có người không đi tu vẫn ăn thất trai, thập trai hay trường trai.

Họ ăn chay không đơn giản vì sức khỏe, mà với họ, món chay còn ẩn chứa nhiều triết lý xâu xa, vì thế mâm cơm chay của người Huế không cần quá sang trọng, không cần phải giả gà, giả heo mà càng đơn giãn, càng đạm bạc càng tốt, nhưng món ăn phải hội đủ yếu tố âm dương, hội đủ thiền định.

Các món được nấu nướng thường là đậu khuôn (đậu phụ) và các loại rau đậu xào nấu bằng dầu phụng và xì dầu, nhiều khi chỉ là đĩa rau muống luộc với tương chao...

Riêng những ngày kỵ (giỗ) nhiều gia đình Huế mới bày vẽ ra nhiều món ngon và đẹp. Cũng nem, chả, thịt kho tàu, thịt gà bóp, cá chiên...nhưng tất cả đều bằng đồ chay.

Người phụ nữ Huế với những sản vật của tự nhiên, không thịt, không cá, mà vẫn chế biến nên những món như giò lụa, chả quế, thịt gà, nem...tất cả chỉ đơn thuần bằng phù chúc, đậu khuôn, bánh tráng, nấm mèo...vốn là những nguyên liệu bằng thực vật!

Trong cuốn Phong vị xứ Huế, tác giả Trần Đức Anh Sơn cho biết: Chỉ riêng món chả có thể làm bằng nhiều thứ khác nhau, nhưng ngon nhất vẫn là làm bằng phù chúc. Phù chúc mua về, ngâm cho mềm rồi cho các thứ gia vị như củ kiệu, xì dầu tiêu, muối đường cho vừa, xong lấy lá chuối bó lại như cách làm chả lụa bằng thịt heo đem hấp trên nước xôi cho chín. Khi đem dọn cắt từng miếng y như chả thật.

Ngoài ra,chả cũng được làm bằng quả chuối mật gần chín. Người ta còn làm chả quế băng đậu khuôn hấp, bên trên phết một lớp phẩm màu nâu sẫm, rồi cắt miếng hình thoi dọn lên.

Có rất nhiều món ăn chay ngon tưởng như món mặn, mà người ăn khó nhận ra được làm bằng thứ gì; chẳng hạn món sườn heo ram".

Thật ra, món này chỉ được nấu bằng khoai lang. Khoai được lột vỏ, cắt từng thỏi bằng ngón tay. Bỏ vào chảo dầu đang sôi, chiên vàng. Đậu xanh ngâm nước lạnh vài giờ rồi đãi sạch vỏ để ráo nước đem giã nhỏ, nêm vô xì dầu, đường, tiêu và muối trộn đều. tiếp tục lấy đậu giã rồi trải ra thớt, sắp vài miếng khoai rán lên trên, cách đều nhau từng quãng như sườn heo.

Để một lớp đậu nữa lên trên, lấy tay ấn cho chặt để đậu và khoai dính liền nhau. Đổ dầu vào chảo để nóng, bỏ "sườn" vào rán vàng. Dọn với xà lách, cà chua điểm vài lát cho đẹp thì món "sườn ram" của ăn chay nhìn qua cũng không khác gì!

Người ăn chay sẽ vô cùng ngạc nhiên về hình thức "mặn hóa" món chay của người nội trợ Huế. Với bất cứ loại thực phẩm chay nào, họ cũng chế ra được món ăn giống hệt món mặn. Biết bao món ăn chay được làm bằng đậu xanh mà vẫn ngon và sự giống nhau với món mặn thì không ai có thể chê được.

Cũng cần nói thêm  về một món độc đáo khác, là món ram (người Bắc gọi là bánh đa nem, người Nam gọi là chả giò. Món này được làm bằng đậu xanh chà sạch vỏ, giã nhỏ, xì dầu, tiêu, muối, đường, bún tàu luộc mềm cắt ngắn, nấm mèo ngâm mềm, rửa sạch, xắt rồi trộn vào với đậu cho đều. Bánh tráng mỏng cắt miếng vuông, nhúng nước vẩy cho ráo, nhúng miếng nào cuộn miếng ấy, thay vì gói bằng thịt, trứntg gà, các thứ khác, thì ở đây bỏ đậu đã trộn với các gia vị nói trên gói lại cho vào chảo dầu đang sôi chiên vàng.

Ở Huế một buổi tiệc mặn có bao nhiêu món, thì với tiệc chay cũng sẽ có bấy nhiêu món. Cách trình bày cũng nghệ thuật không kém cách trình bày các món mặn.

Mời khách một bữa tiệc chay, là dịp các bà nội trợ thể hiện tài nữ công gia chánh của mình.

Món chay Huế trong những ngày tiệc hay ngày giỗ kỵ, đã trở thành một nghệ thuật đặc biệt, đòi hỏi sự tinh tế và hấp dẫn từ những bàn tay khéo léo làm ra nó, cũng như kén người thưởng thức.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng: đối với một số người học Phật,nhất là với người lớn tuổi, việc "mặn hóa" các món chay không được họ tán thành, theo họ, đã tự nguyện ăn chay mà còn "tơ tưởng" đến món mặn thì chẳng ích lợi gì! Thế nhưng như nhà thơ Ngô Minh, việc "mặn hóa" các món ăn là một "cuộc cách mạng" trong việc chế biến món chay ở Huế, chính nhờ vậy mà món chay thu hút được những người vốn không quen ăn chay.

Dù sao, cơm chay vẫn mang nặng triết thuyết nhà Phật đã và đang sống giữa xã hội xô bồ, tất bật. Đó cũng là một nét đặc trưng mà ẩm thực xứ Huế có được...
 
Copyright © 2013 TÂM LINH | Powered by Blogger