Tuesday, February 18, 2014

Lò sát sinh trâu bò


 Chuyện sinh nghề tử nghiệp ở làng sát sinh số 1 Việt Nam

Chuyện Cấm Cười - Theo Soha

 

 “Con trâu là đầu cơ nghiệp”. Người nông dân vẫn thường xuýt xoa khen trâu là loài động vật hiền lành, chăm chỉ, thậm chí còn “làm thật ăn giả” vì nó chỉ ăn cỏ, ăn rơm rạ mà làm ra lúa gạo, tiền của nuôi sống con người, giúp người nông dân nên cơ nghiệp.

 

Thời phong kiến, các vị vua chúa vẫn thường ra lệnh cấm giết mổ trâu, bò để giữ gìn sức kéo, phục vụ nông nghiệp.

Trên vùng cao, khí trời buốt giá, bà con dân tộc vẫn nơm nớp lo cho “con của” hơn cả con người. Sợ trâu chết cóng, họ thường lấy bao tải mặc cho chúng, rồi căng bạt, sửa chuồng, đốt lửa sưởi ấm cho chúng vào những ngày giá lạnh.

Vậy mà, ở giữa miền nông nghiệp trù phú, có một làng chuyên giết thịt trâu, bò đã tồn tại mấy chục năm nay - làng Phúc Lâm (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).

Những câu chuyện “sinh nghề tử nghiệp” đau lòng vẫn cứ diễn ra như cơm bữa ở ngôi làng này, khiến người ta không khỏi nghĩ rằng: Khi con người nỡ đem trâu, bò - loài vật nuôi thân thiết của mình - ra đập chết, xẻ thịt, róc xương, lột da thì “cái nghiệp” phải hứng chịu cũng nặng nề lắm.

Trâu rừng “làm loạn”

Theo chân một vài người quen về làng Phúc Lâm, chúng tôi không chỉ được tận mắt chứng kiến cảnh người ta dắt trâu từ khắp các nơi về nhốt ở chuồng nhà mình, đợi đến giờ giết thịt, mà còn được nghe nhiều câu chuyện hãi hùng từ cái nghề sát sinh này.

Dù mang lại nhiều lợi nhuận, kinh tế của nhiều gia đình cũng phất lên từ con trâu, con bò, thế nhưng, đánh đổi lại, những người làm nghề này phải vất vả cực nhọc, ngày nào cũng thức thâu đêm suốt sáng.

Một bác lái trâu nói đùa: “Giờ hoàng đạo của cái nghề này thường vào ban đêm, để sáng ra mới có thịt tươi mà bán chứ…”.

Dăm ba năm trở lại đây, dân làng Phúc Lâm đã chứng kiến bao cảnh tượng hãi hùng mà tai họa chính từ những lò giết mổ mà ra.

Các lái trâu đi khắp các miền tìm trâu, bò đưa về làng giết thịt. Họ thường lên mạn rừng núi, nơi có nhiều trâu, bò được chăn thả tự nhiên và hoang dã nhất. Họ mang về làng Phúc Lâm đủ các giống trâu, bò, nhưng đáng sợ nhất là những con trâu được thả tự nhiên trên rừng.

Bình thường chúng rất hiền lành, nhưng khi về đến Phúc Lâm, như có linh tính, chúng cảm nhận được mùi “tử khí”, mùi “sát sinh” nặng nề ở làng nghề này, chúng bỗng nhiên như “phát điên”, sùi bọt mép, mắt đỏ ngầu, giằng đứt dây chão rồi lao như tên bắn về phía con người.

Một người dân làng Phúc Lâm chua xót kể: “Ở cái làng này, những vụ tai nạn gây thiệt hại về người còn kể ra được chứ chuyện trâu nó lồng vào nhà húc đổ tan tành bàn ghế, giường tủ là chuyện xảy ra như cơm bữa…”.



Di ảnh của bà Nguyễn Thị Ẩm - nạn nhân đã thiệt mạng vì bị trâu húc.
Năm 2007, một vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra làm rúng động cả làng Phúc Lâm. Con trâu ở lò mổ nhà bà Nụ sổng chuồng, giật phăng dây rợ, quăng mình về phía trước, phầm phập lao vào làng.

Nó chạy từ ngoài phía đình làng vào tận sân nhà ông Đỗ Văn Quy (SN 1946) - chủ một lò mổ lớn. Phía sau, chủ trâu rong xe máy rượt theo, con trâu thấy tiếng xe máy, đèn xe sáng choang lại càng trở nên hung hãn.

Trời nhập nhoạng tối, bà Nguyễn Thị Ẩm (vợ ông Quy) đang cho gà vịt ăn thì bị con trâu dữ xông vào húc toang bụng.

Người nhà ông Quy nhớ lại: “Cả nhà tôi đưa bà ấy đi Viện 10 cấp cứu, mổ ngay trong đêm nhưng đã giập hết cả lá lách rồi. Bà ấy bất tỉnh nhân sự, 3 hôm sau thì mất. Trước nhà tôi cũng làm cái nghề giết mổ trâu, bò này, chẳng biết người ta nói có phải không nhưng chắc là do cái nghề nó bạc bẽo quá…”.

Đau xót và thương nhớ người vợ quá cố, một thời gian sau, ông Quy cũng đổ bệnh, bị đột quỵ, đi lại vô cùng khó khăn, những khi trái gió trở trời lại nằm đâu nằm đấy trên giường, chỉ thều thào nói chuyện.

Gần một năm sau cái chết đau lòng của bà Ẩm, tai nạn nghề nghiệp lại giáng xuống gia đình anh Đỗ Văn Tư (SN 1986).

Lò mổ của gia đình anh cũng thuộc cỡ lớn ở làng. Anh Tư chính thức theo nghề lái trâu từ năm 17 tuổi, anh bảo, đó là cái nghề “mua bằng mắt, bán bằng cân” nên lỗ là thường.

Anh bôn ba khắp nơi để tìm chọn trâu về phục vụ cho cái lò mổ lớn đã nuôi sống cả gia đình. Thế rồi, chính con trâu lại là thủ phạm gây ra cái chết thê thảm của ông Dự - chú rể của anh Tư và làm cho mẹ anh - bà Đỗ Thị Vượng bị thương nặng. Vốn liếng, gia sản theo đó mà tan tành.

Hôm ấy, ông Dự đang cho trâu uống nước, con trâu ấy thuộc giống trâu “Thổ”, bắt ở rừng núi phía Bắc mang về, thấy người bỗng rống lên, giãy đạp đứt tung dây chão.

Nó lao vào húc ông Dự những đòn chí mạng. Khi ấy, bà Vượng đứng ở sân thấy vậy hốt hoảng kêu cứu, con trâu nghe thấy tiếng của bà, tiếp tục lao như điên vào bà Vượng.

Anh Tư không giấu được đau đớn, hãi hùng khi nhắc lại sự việc kinh hoàng ấy: “Tai nạn hồi ấy ghê quá. Hôm đấy chính tôi lên đón chú ấy xuống, đưa chú ấy về nhà xong thì mình đi đón hàng, đi xem trâu ở quanh làng này mà.

Chú Dự bị nội thương, gan, phổi, lá lách dập hết. Con trâu móc sừng vào sườn, thủng lá lách, mất bao nhiêu là máu, người nhà tiếp cho phải đến 5, 6 lít máu mà chú ấy không sống nổi… 

Chú ấy là người làng bên, nhưng quê ngoại chính là ở Phúc Lâm này. Mẹ tôi cũng bị thương nặng, phải nằm viện rất lâu, vì bị gãy xương hông”.

Cũng sau tai nạn khủng khiếp ấy, gia đình anh Tư quyết định đóng cửa lò mổ. Phần vì vốn liếng đã tập trung để chạy chữa cho mẹ, phần vì muốn giảm đi cái nghiệp nặng nề của gia đình mình vì sát sinh.

Anh Tư tâm sự: “Nhà tôi nghỉ làm lò mổ vì giai đoạn ấy phải dành thời gian chăm sóc người nhà, không có ai đi bắt hàng cả. Làm cái nghề này là phải có người đi mấy ngày trời để lùng trâu ở Cao Bằng, Bắc Cạn… Mà làm đêm thì vất vả vô cùng”.

Ở làng Phúc Lâm tai nạn thì nhiều. Có khi, nhiều trâu sổng chuồng, chạy ra đường, gia chủ cũng “cắn răng” mà bỏ luôn trâu là chuyện bình thường.

Họ sợ con trâu chạy sang làng khác, húc người, gây tai nạn thì số tiền họ phải “đền” sẽ gấp nhiều lần giá trị con trâu ấy. Ở làng này, số trâu bị “bỏ rơi” vô chủ kiểu đó cũng nhiều lắm rồi.

Trước kia, cũng ở cùng xóm nhà anh Tư, có trường hợp trâu “phát điên”, chạy ra phía đình Trám, rồi lao ra cánh đồng.

Con trâu hung hãn đến nỗi, cứ nhìn thấy người cách cả trăm mét là nó lao vào húc, không một ai dám lại gần nữa. Chủ nhà kia hãi hùng, sợ con vật sẽ gây nhiều tai nạn, họ đã phải nhờ đến chính quyền, nhờ quân đội mang súng ra bắn chết nó ngay giữa đồng.

Còn con trâu gây ra đại họa cho nhà anh Tư, sau khi “gây án”, nó chạy vào chuồng lợn của nhà bên cạnh. Rất nhiều lái trâu có kinh nghiệm và thanh niên trai tráng của làng được tập trung lại, họ phải bàn bạc nhau, rồi cầm chiếc sào dài 4 mét, ròng dây điện vào giật chết con vật hung hãn.

Anh Tư bảo, sau những vụ án kinh hoàng như thế, người làm nghề bây giờ cũng đã cẩn thận hơn nhiều, chuồng trại toàn làm bằng bêtông và gò sắt rất kiên cố, chứ không dùng cọc tre như trước nữa.
Gặp phải trường hợp trâu phát cuồng cũng không gây nguy hiểm nữa vì họ đã chão đầu, chão mũi con vật cẩn thận.

Ấy thế mà, giữa năm 2012, bà Nguyễn Thị Hậu - là chủ 1 trong 6 lò mổ lớn của làng - lại tiếp tục là nạn nhân bị trâu húc. Bà Hậu cũng bị chiếc sừng dài ngoẵng của con trâu rừng đâm thủng lá lách, phải nằm điều trị ở bệnh viện cả tháng trời.

Nghiến răng chịu đựng

Theo trưởng thôn Đỗ Văn Truật (SN 1956) thì làng Phúc Lâm có khoảng gần 500 hộ dân, trước kia nghề giết thịt trâu, bò chiếm đến 1/3 số hộ dân, nhưng đến giờ làng chỉ còn khoảng hơn chục hộ tiếp tục hành nghề.

Tuy nhiên, hơn chục cái lò mổ này vẫn “đảm bảo” công ăn việc làm và thu nhập cho khoảng 1/5 số hộ trong làng. Dân làng đến làm thuê tại các lò mổ hoặc trực tiếp là người phân phối các sản phẩm đó ra thị trường.



Xương trâu đắp đống trên bờ và nổi lềnh phềnh dưới hồ nước đặc quánh, váng mỡ.

Một lò mổ ở làng Phúc Lâm.
Mỗi ngày, những tay đồ tể khét tiếng ở làng Phúc Lâm vẫn đều đặn “tiễn” khoảng 100 chú trâu, bò về chầu trời.

Dân làng phải nghiến răng chịu đựng, ngày ngày sống trong cảnh ngõ xóm nồng nặc mùi phân, mùi nước tiểu trâu, bò, hôi thối cực độ. Những đàn trâu, bò từ khắp các nơi được các lái trâu dắt díu về làng.
 
Ông Đỗ Văn Truật - Trưởng thôn Phúc Lâm - nói như than thở: “Môi trường sống của chúng tôi lâu nay gặp quá nhiều cái khủng khiếp, mà hướng giải quyết thì khó khăn quá.

Chưa giết mổ tập trung được, rải rác các xóm đều có lò mổ, thành thử các rãnh nước quanh làng của chúng tôi bị ô nhiễm lắm. 

Máu, mỡ, phân trâu, bò, rồi cả nước nhiễm mặn từ việc sử dụng quá nhiều muối cứ tống trực tiếp ra các cống rãnh, rồi chảy thẳng ra ao hồ. Việc nhắc nhở càng khó khăn hơn vì họ không phải là anh em họ hàng thì cũng là láng giềng gần gũi…”.

Người ta bảo, đi qua cái làng nghề nào cũng nhận ra ngay bởi người ta hay trưng bày sản phẩm của làng mình ra mặt đường, quốc lộ để giới thiệu quảng bá sản phẩm của quê hương cho khách qua đường dừng lại xem.

Ấy thế mà, đi qua làng Phúc Lâm, không ai dám dừng chân một chốc bởi cái sự hôi thối kinh hoàng bốc lên ở những ao hồ ven đường. Hằng hà sa số những bao tải, những đống lớn chồng bé xương trâu xương bò cứ “dàn hàng ngang” ở rìa đường, nằm chỏng chơ dưới mặt ao váng mỡ.

Trước đây hệ thống ao hồ quanh làng này là nơi nuôi cá, sau một thời gian hứng chịu nước muối từ việc ướp da, rồi ngâm xương trâu, bò giờ cũng chỉ còn vài đám bèo tây sống sót. Từ đó, người làng quyết định “di dời” việc ngâm xương trâu, bò ra hệ thống ao hồ đầu làng ven quốc lộ, “tra tấn” khách qua đường!

Những “núi” xương nằm ven quốc lộ ấy đợi thời gian làm mục ruỗng hết thịt và tủy, khi còn trơ lại cái xương trắng, người dân tập trung lại rồi mang đến địa phương nào đó để “sản xuất” tiếp.

Thấy chúng tôi ngó ngang ngó dọc, chụp ảnh này nọ, có người chua chát bảo: “Chúng tôi chịu thối, chịu bẩn thì các bác mới có thức ăn cho chăn nuôi, mới có cái trống mà đánh, có cái lược sừng mà chải tóc chứ…”.

Ngẫm ra thì họ nói chẳng sai, bởi các phụ phẩm từ việc giết thịt trâu, bò như sừng, da, xương… đều được tận dụng “hết cỡ”.

Thế nhưng, việc họ vô tình hay hữu ý “đầu độc” khiến ao hồ, ruộng đồng ô nhiễm đến mức tưởng chừng không thể xử lý nổi, hay để vùng không khí xung quanh “bức tử” chính đồng bào của mình mỗi khi họ đi ngang qua con đường này quả thực là một điều nhẫn tâm.

Đau lòng hơn, dân làng Phúc Lâm và con cháu họ chính là những nạn nhân trực tiếp của sự ô nhiễm khủng khiếp này. Như thế chẳng là tự làm mình “chết dần chết mòn” trong cuộc kiếm tìm miếng cơm manh áo hay sao?

Từ năm 2003, Chính phủ Việt Nam đã đưa Phúc Lâm vào danh sách những làng nghề ô nhiễm nhất Việt Nam cần được xử lý triệt để.

Tuy nhiên sau 10 năm nỗ lực tìm giải pháp và cố gắng giải quyết thì môi trường tại đây vẫn chưa được cải thiện. Người dân Phúc Lâm tiếp tục sống chung với ô nhiễm “ba bề bốn bên”, từ ô nhiễm nguồn nước đến bầu không khí…

Đi “tham quan” trường Tiểu học Phúc Lâm, chúng tôi mới thấu nỗi khổ của thầy và trò ở ngôi trường này, khi bên ngoài cửa sổ lớp học không phải là cây xanh, hoa thắm mà là ao hồ đen kịt, phân trâu, bò đắp đống, hôi thối không sao tả xiết.

Sunday, February 2, 2014

Lợi ích của việc ăn chay



  Chuyện Cấm Cười / Pmanth


Hầu hết mọi người trên cõi đời này ai cũng đều thích ăn thịt, cũng bởi vì thế mới xuất hiện và tràn lan đủ các loại bệnh tật... 

Tạo hóa tạo ra con người với hàm răng bằng, chỉ để ăn ngũ cốc. không phải để ăn thịt. 

 Còn loài động vật với răng nhọn có thể ăn thịt sống, tuy nhiên con người mặc dù không ăn được thịt sống đã nghĩ ra cách nấu lên cho chín và chế biến đủ mọi kiểu cách để ăn được ngon hơn. Và cũng vì ăn những thức ăn không đúng và thích hợp với cơ thể, nên chúng ta đã mắc nhiều loại bệnh tật kỳ quái như ung thư .... khi ăn nhiều thịt của các loại động vật, con người cũng sẽ có nhiều dã tâm và thú tính gần giống như chúng.
          
Thí dụ: Tại sao có những người cha có thể cưỡng dâm đứa con gái bé bỏng do chính máu huyết của mình tạo ra, giống như loài súc vật. Mà thiên hạ thường chửi rủa những bậc cha mẹ như vậy là "mặt người, mà lòng thú ".

           * Các chứng ung thư....:

 Khoa học đã chứng minh được các loại thịt mà chúng ta ăn vào hằng ngày đã là nguyên nhân gây ra những bệnh ung thư đủ loại ....nhất là ung thư ruột già.

           * Cao huyết áp :

Khi ăn nhiều thịt, lượng mỡ trong máu tăng cao, thành động mạch sẽ sớm bị xơ vữa chai cứng, hẹp lại, đưa đến việc cao huyết áp, cao mỡ, lâu ngày gây ra bệnh tai biến mạnh máu não, và nghẹt tim.

           * Bệnh thống phong ( gout ) :

Ăn nhiều thịt đỏ làm cơ thể tích tụ nhiều chất acid uric, nguyên nhân gây ra chứng bệnh gout, nếu trong cơ thể có lượng acid uric tăng cao, tích tụ ở các khớp xương gây ra bệnh gout làm cho người bệnh rất đau đớn.

          *  Bệnh tim mạch

Ăn nhiều thịt đỏ cũng là nguyên nhân gây ra cao mỡ, nguyên nhân dẫn đến chứng cao huyết áp, khi sự tuần hoàn của máu bị nghẽn lại do tích tụ quá nhiều mỡ, trái tim phải làm việc rất vất vả lâu ngày bị suy yếu không làm việc được nữa, bệnh tim mạch.

Nếu ăn thịt có hại cho sức khỏe như vậy, thì việc ăn chay, chỉ thuần túy là các loại rau củ và trái cây cũng vẫn có đầy đủ chất bổ dưỡng và còn tốt và lợi ích hơn nhiều so với các loại thịt đỏ và hải sản.

Nếu thịt và hải sản có nhiều protein ( chất đạm dơ ) thì trong các loại đậu và hạt của rau trái lại chỉ chứa toàn là " chất đạm sạch ". Ngoài ra, ăn chay chúng ta được nuôi dưỡng với sự tinh khiết và thanh đạm của rau trái hoa quả, làm phát sanh lòng từ bi của nhà Phật, biết yêu thương tất cả muôn loài, những động vật, không có khả năng chống cự và tự bảo vệ mạng sống của chúng, nhưng chúng cũng biết đau đớn và tham sống sợ chết như chúng ta.

 Nếu bạn muốn hiểu sự thật như địa ngục của các lò mổ thịt, hãy đến đó để chứng kiến ? Những tiếng gào khóc thật thảm thiết, tôi chợt tưởng tượng, nếu tôi, đang ở trong thảm trạng của những con vật ấy, và đang bị chọc tiết cắt xẻo, chao ôi ! thật là kinh khủng, khi hiểu được nỗi khủng khiếp và đau đớn cùng cực của các con vật đáng thương đó như thế nào!  Tự nhiên chúng ta không còn cảm thấy muốn ăn bất cứ món thịt hay cá nào nữa.

Nếu mọi người ai cũng ăn chay trường, và có lòng thiện tâm biết cảm nhận và thương yêu tất cả muôn loài vạn vật. Thì những oan nghiệt, khổ ải, vì tham lam sân giận, si mê, ham danh lợi, hám quyền  lực.. thích tước đoạt tài sản của kẻ yếu. Tạo ra biết bao thảm trạng cho nhân loại, những cuộc chiến tranh, chia ly, chết chóc, và hủy diệt của loài người cứ tiếp tục như thế, cũng như những tiếng gào thét vì đau đớn của triệu, triệu các con vật bị mổ thịt hằng đêm.
 
Có một tiên đoán rất đáng khích lệ, là đến năm 2030 người ta sẽ không còn thích ăn thịt động vật nữa, vì khoa học ngày càng chứng minh được nguyên nhân của rất nhiều bệnh tật, là do ăn thịt đỏ, và việc ăn chay sẽ trở nên rất phổ biến.  ( PMANTH )

Hãy là chủ nhân đừng bao giờ làm nô lệ cho tiền bạc




Pmanth/Chuyện Cấm Cười    
 
Uy lực của đồng tiền, nếu biết sử dụng, thì những lợi ích to lớn do nó mang đến, không ai có thể phủ nhận được. Tuy nhiên bên cạnh đó, tiền bạc cũng có thể tàn phá, và hủy diệt con người thật kinh khủng.  Đừng bao giờ để tiền bạc trở thành chủ nhân của bạn.

nếu bạn là nô lệ của đồng tiền, thì thật tội nghiệp cho bạn, vì cuộc đời của bạn sẽ thật sự biến thành địa ngục.
      

 Khi tiền bạc là chủ nhân của con người .

Con người sẽ bị tiền bạc sai khiến, vì tiền bạc người ta sẵn sàng làm những việc tồi tệ nhất, để có được nó.  Các bạn cũng đã từng nghe hay đọc được những tin tức về những vụ lường gạt vô tiền khoáng hậu, của vài tài phiệt, tại các thị trường tài chánh của Mỹ, trong những năm gần đây, với số tiền kếch sù, đã lên đến vài tỷ USD.

Đó cũng là mồ hôi và nước mắt của bao nhiêu nạn nhân, có phải chăng tiền bạc đã là nguyên nhân sai khiến những tài phiệt này hành động như vậy?

Và cũng chính vì lòng tham một chút lợi nhỏ!  mà những nạn nhân đã bị mất mát  quá lớn?

 Hay những vụ giết người thật kinh hoàng và dã man để cướp của.  Những án mạng thật kinh tởm của những tên cướp. Tại sao? Có phải những con người đó? Đã bị tiền bạc sai khiến, làm lu mờ lý trí, và mất hết nhân tính.
      
 Nếu tiền bạc là chủ nhân của một thương gia thì những thương gia này có thể vì tìền, mà sẵn sàng làm những việc như, mua đồ giả, nhưng bán lại với giá của đồ thật.

 Hoặc nếu tiền bạc là chủ nhân của một luật sư, thì tiền bạc cũng có thể sai khiến luật sư kia tranh cãi cho một tên giết người, nhưng có nhiều tiền được trắng án, trở thành vô tội, còn người vô tội, nhưng lại không có tiền, biến thành kẻ sát nhân.
     
Tiền bạc cũng sai khiến một người bạn, sẵn sàng, hãm hại một người bạn, để chiếm đoạt những lợi lộc hay quyền thế.

Cũng vì tiền bạc, không hiếm những kẻ lừa thầy, phản bạn, những kẻ đã giết cha, hại mẹ, giết vợ, giết chồng, hay hãm hại chính con cái của họ để có được tiền bạc mà họ mong muốn, rồi hậu quả của những việc làm tồi tệ do tiền bạc sai khiến đó, sẽ đưa những con người như vậy đi đến sự hủy diệt của chính bản thân họ.
      
Nếu bạn là chủ nhân của tiền bạc và biết sai khiến tiền bạc thì thế nào ?

 Nếu bạn có nhiều tiền bạc và bạn muốn là chủ nhân của tiền bạc, thay vì làm nô lệ của nó, vậy thì bạn hãy ra lệnh và sai khiến tiền bạc phục vụ cho bạn.
    
  Phục vụ những nhu cầu cần thiết hằng ngày của bạn như :  hãy mang một quãn gia đến để săn sóc chồng, vợ, con cái của bạn, nấu nướng, dọn dẹp và giúp nhà cửa của bạn luôn sạch sẽ, ngăn nắp để mỗi khi đi làm về, bạn có thể nghỉ ngơì và hưởng thụ cuộc sống.

Đó là bạn đã làm chủ của tiền bạc và dùng tiền bạc để phục vụ cho gia đình bạn . Hãy dùng tiền bạc để được phục vụ và chia sẻ công việc của bạn cho nhiều người khác.
   
 Có nhiều người tuy họ có rất nhiều tiền, có thể thuê mướn  được một hay nhiều người phụ giúp cho họ, nhưng họ đã không làm như vậy, họ luôn muốn tự làm tất cả mọi việc, để có thể tiết kiệm được mỗi tháng, thêm một số tiền nhỏ, họ không muốn tiêu xài gì cho chính bản thân! mà chỉ muốn dành dụm, tiếp tục làm việc và cất giữ tiền bạc, rồi cố gắng làm việc nhiều hơn, để hy vọng có thêm nhiều tiền bạc và tiếp tục dành dụm.

Thật là một suy nghĩ nông cạn, cho đến một ngày!  Khi họ có thật nhiều của cải và tiền bạc nhưng họ lại nằm trên đống tiền bạc của cải đó, với đủ mọi thứ bệnh tật và không thể nào tiêu xài, hay hưởng thụ cuộc sống được, vì sức khỏe đã cạn kiệt.

Tại sao bạn lại có thể đối xử quá khắc nghiệt với chính bản thân của bạn như vậy?  Bạn luôn muốn bản thân bạn làm việc không ngừng nghỉ, để kiếm được thật nhiều tiền, nhưng lại không cho chính bản thân bạn được hưởng thụ bất cứ một điều gì! Thật là một việc vô cùng phi lý.    


 Hãy dùng tiền bạc để bạn có thể sống ở  một ngôi nhà thích hợp, với những tiền bạc mà bạn có

 Hãy dùng tiền bạc để làm cho bản thân bạn và những người thân yêu của bạn được hạnh phúc và sung sướng


 Hãy dùng tiền bạc để chia sẻ cho những người hoạn nạn, đói khổ, tật bệnh


Hãy dùng tiền bạc để nhân cách của bạn luôn được tỏa sáng bạn nhé!.
  

Dù bạn có thật nhiều tiền bạc và của cải. Thì cuối cùng, khi từ giã cõi đời giả tạm này, bạn cũng chỉ ra đi với hai bàn tay trắng, có chăng là những tội lỗi và phước đức mà bạn đã tạo ra khi sinh thời, thì có thể đem theo được mà thôi.

 

Sunday, January 19, 2014

Độc đáo món chay xứ Huế

 


 Chuyện Cấm Cười - Theo Tôn Thất Thọ/Tuần Báo Mới


www.chuyencamcuoi.blogspot.com - Nói đến cơm chay Huế, trước hết phải nói đến cách ăn chay tại các chùa ở Huế. Hàng tháng, vào những ngày lễ, nhà chùa thường làm cỗ chay đãi Phật tử bốn phương. Gọi là cỗ nhưng món chay trong chùa không cầu kỳ, chỉ đạm bạc với tương, muối, rau dưa...toàn là những sản vật, thảo mộc trong vườn chùa do các vải cùng những Phật tử nhiệt thành đến giúp.Bữa cơm chay đạm bạc nhưng luôn thu hút rất nhiều người.


Đối với người dân Huế, có hai kiểu ăn chay, ăn chay trường và ăn chay kỳ.

Ăn chay trường là ăn chay quanh năm suốt tháng, không ăn các loại thực phẩm có nguồn gốc từ các loại động vật, không ăn thịt, không ăn trứng.

Ăn chay kỳ là ăn chay định kỳ vào ngày mồng 1 và ngày rằm âm lịch. Nhưng cũng có người ăn năm, tháng, hoặc xen kẽ giữa bữa chay và bữa mặn.

Người Huế định ngày chay trong tháng là trai kỳ, ăn chay 2 ngày rằm, ngày mồng một (hoặc ba mươi) gọi là nhị trai, ăn chay 4 ngày trong tháng gọi là tứ trai. Có người không đi tu vẫn ăn thất trai, thập trai hay trường trai.

Họ ăn chay không đơn giản vì sức khỏe, mà với họ, món chay còn ẩn chứa nhiều triết lý xâu xa, vì thế mâm cơm chay của người Huế không cần quá sang trọng, không cần phải giả gà, giả heo mà càng đơn giãn, càng đạm bạc càng tốt, nhưng món ăn phải hội đủ yếu tố âm dương, hội đủ thiền định.

Các món được nấu nướng thường là đậu khuôn (đậu phụ) và các loại rau đậu xào nấu bằng dầu phụng và xì dầu, nhiều khi chỉ là đĩa rau muống luộc với tương chao...

Riêng những ngày kỵ (giỗ) nhiều gia đình Huế mới bày vẽ ra nhiều món ngon và đẹp. Cũng nem, chả, thịt kho tàu, thịt gà bóp, cá chiên...nhưng tất cả đều bằng đồ chay.

Người phụ nữ Huế với những sản vật của tự nhiên, không thịt, không cá, mà vẫn chế biến nên những món như giò lụa, chả quế, thịt gà, nem...tất cả chỉ đơn thuần bằng phù chúc, đậu khuôn, bánh tráng, nấm mèo...vốn là những nguyên liệu bằng thực vật!

Trong cuốn Phong vị xứ Huế, tác giả Trần Đức Anh Sơn cho biết: Chỉ riêng món chả có thể làm bằng nhiều thứ khác nhau, nhưng ngon nhất vẫn là làm bằng phù chúc. Phù chúc mua về, ngâm cho mềm rồi cho các thứ gia vị như củ kiệu, xì dầu tiêu, muối đường cho vừa, xong lấy lá chuối bó lại như cách làm chả lụa bằng thịt heo đem hấp trên nước xôi cho chín. Khi đem dọn cắt từng miếng y như chả thật.

Ngoài ra,chả cũng được làm bằng quả chuối mật gần chín. Người ta còn làm chả quế băng đậu khuôn hấp, bên trên phết một lớp phẩm màu nâu sẫm, rồi cắt miếng hình thoi dọn lên.

Có rất nhiều món ăn chay ngon tưởng như món mặn, mà người ăn khó nhận ra được làm bằng thứ gì; chẳng hạn món sườn heo ram".

Thật ra, món này chỉ được nấu bằng khoai lang. Khoai được lột vỏ, cắt từng thỏi bằng ngón tay. Bỏ vào chảo dầu đang sôi, chiên vàng. Đậu xanh ngâm nước lạnh vài giờ rồi đãi sạch vỏ để ráo nước đem giã nhỏ, nêm vô xì dầu, đường, tiêu và muối trộn đều. tiếp tục lấy đậu giã rồi trải ra thớt, sắp vài miếng khoai rán lên trên, cách đều nhau từng quãng như sườn heo.

Để một lớp đậu nữa lên trên, lấy tay ấn cho chặt để đậu và khoai dính liền nhau. Đổ dầu vào chảo để nóng, bỏ "sườn" vào rán vàng. Dọn với xà lách, cà chua điểm vài lát cho đẹp thì món "sườn ram" của ăn chay nhìn qua cũng không khác gì!

Người ăn chay sẽ vô cùng ngạc nhiên về hình thức "mặn hóa" món chay của người nội trợ Huế. Với bất cứ loại thực phẩm chay nào, họ cũng chế ra được món ăn giống hệt món mặn. Biết bao món ăn chay được làm bằng đậu xanh mà vẫn ngon và sự giống nhau với món mặn thì không ai có thể chê được.

Cũng cần nói thêm  về một món độc đáo khác, là món ram (người Bắc gọi là bánh đa nem, người Nam gọi là chả giò. Món này được làm bằng đậu xanh chà sạch vỏ, giã nhỏ, xì dầu, tiêu, muối, đường, bún tàu luộc mềm cắt ngắn, nấm mèo ngâm mềm, rửa sạch, xắt rồi trộn vào với đậu cho đều. Bánh tráng mỏng cắt miếng vuông, nhúng nước vẩy cho ráo, nhúng miếng nào cuộn miếng ấy, thay vì gói bằng thịt, trứntg gà, các thứ khác, thì ở đây bỏ đậu đã trộn với các gia vị nói trên gói lại cho vào chảo dầu đang sôi chiên vàng.

Ở Huế một buổi tiệc mặn có bao nhiêu món, thì với tiệc chay cũng sẽ có bấy nhiêu món. Cách trình bày cũng nghệ thuật không kém cách trình bày các món mặn.

Mời khách một bữa tiệc chay, là dịp các bà nội trợ thể hiện tài nữ công gia chánh của mình.

Món chay Huế trong những ngày tiệc hay ngày giỗ kỵ, đã trở thành một nghệ thuật đặc biệt, đòi hỏi sự tinh tế và hấp dẫn từ những bàn tay khéo léo làm ra nó, cũng như kén người thưởng thức.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng: đối với một số người học Phật,nhất là với người lớn tuổi, việc "mặn hóa" các món chay không được họ tán thành, theo họ, đã tự nguyện ăn chay mà còn "tơ tưởng" đến món mặn thì chẳng ích lợi gì! Thế nhưng như nhà thơ Ngô Minh, việc "mặn hóa" các món ăn là một "cuộc cách mạng" trong việc chế biến món chay ở Huế, chính nhờ vậy mà món chay thu hút được những người vốn không quen ăn chay.

Dù sao, cơm chay vẫn mang nặng triết thuyết nhà Phật đã và đang sống giữa xã hội xô bồ, tất bật. Đó cũng là một nét đặc trưng mà ẩm thực xứ Huế có được...

Friday, January 17, 2014

Ăn nhiều thịt đỏ thủ phạm gây ung thư toàn cầu

lợi nhuận, ireland, trung quốc, bệnh ung thư phổ biến, nhật bản, mai phương, mỹ, thay đổi chế độ ăn uống, tạp chí, dinh dưỡng, hút thuốc, slovenia

Theo Dan Tri

Một nghiên cứu mới đây đã phát hiện ra rằng phần lớn các bệnh ung thư trên thế giới là do 3 thói quen xấu: hút thuốc lá, ăn thịt động vật và uống rượu.

Nghiên cứu, được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng, đã phân tích dữ liệu từ năm 2008 về 21 loại ung thư phổ biến ở 157 quốc gia. William Grant, tác giả nghiên cứu và là giám đốc tại Trung tâm nghiên cứu sức khỏe ở San Francisco, đã tìm ra tỷ lệ ung thư tương quan với các yếu tố khác nhau như tuổi tác, tổng sản phẩm quốc nội và các chế độ ăn.

Các dữ liệu cho thấy hút thuốc và tiêu thụ thịt động vật chiếm 50% nguyên nhân của tất cả các ca mắc bệnh ung thư. Có sự khác nhau khá lớn giữa nam và nữ. Hút thuốc lá ở nam giới có ảnh hưởng xấu gấp đôi so với việc ăn thịt động vật. Trong khi, tỷ lệ ở phụ nữ là ngược lại. Không tính đến ung thư phổi, việc hút thuốc lá và tiêu thụ thịt động vật chiếm 70% nguyên nhân gây ung thư.

“Nhìn chung, 30% các ca tử vong do ung thư (khoảng 7,5 triệu ca trong năm 2008) là do 5 “hành vi và chế độ ăn uống”, TS. Grant giải thích trong nghiên cứu. Đó là chỉ số khối lượng cơ thể cao, ăn ít trái cây và rau, không thường xuyên hoạt động thể chất, hút thuốc lá và uống rượu. 

Sản phẩm động vật có mối tương quan đặc biệt mạnh mẽ với các loại ung thư khác nhau bởi chế độ ăn uống thúc đẩy tăng trưởng cơ thể. Cụ thể, các loại ung thư bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống này bao gồm ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư thận, ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tụy, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tinh hoàn, ung thư tuyến giáp, và ung thư đa u tủy.

Grant cho rằng Nhật Bản là một ví dụ về cách thay đổi chế độ ăn uống có thể ảnh hưởng như thể nào đến cả sự phát triển cơ thể và tỷ lệ mắc bệnh ung thư. Trong tình trạng già hóa dân số, Nhật Bản vẫn mang thể trạng thấp hơn đáng kể so với người phương Tây. Thanh niên Nhật Bản đã tiêu thụ lượng calo từ các loại thịt động vật, mà thường là một chế độ ăn Tây hóa. Kết quả là, các loại bệnh ung thư phổ biến ở các nước phương Tây, hiện nay, đã gia tăng ở Nhật Bản so với gần 3 thập kỷ trước.

Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc cung cấp các dữ liệu về chế độ ăn uống để TS.Grant đánh giá những thay đổi trong thói quen ăn uống bắt đầu từ năm 1980. Điều này rất quan trọng vì khoảng thời gian giữa những thay đổi trong chế độ ăn uống và tỷ lệ ung thư là khoảng 20 năm.

TS. Neal Barnard, Đại học Y George Washington, nhận xét vê nghiên cứu này: “Đây là một nghiên cứu quan trọng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa chế độ ăn thịt và nguy cơ ung thư. Nghiên cứu mang lại một bài học rất rõ ràng về chính sách lương thực cho quốc gia”.

Mark McCarty, Giám đốc nghiên cứu của Công ty phi lợi nhuận Catalytic Longevity, nói rằng:  “Nghiên cứu mới hấp dẫn này làm rõ hút thuốc và tiêu thụ thịt động vật mang lại nguy cơ ung thư toàn cầu. Thực tế, đây cũng là bằng chứng ấn tượng nhất mà tôi biết về những yếu tố gây nguy cơ mắc ung thư lớn. Mặt tích cực của những phát hiện này là các nhà nghiên cức đã xuất phát từ sự lựa chọn lối sống mà chúng ta có thể kiểm soát được”.

Trong một nghiên cứu vào năm 1907, khi các nhà khoa học phát hiện ra  rằng các dân tộc ăn thịt như Đức, Ireland, Scandinavia và Slovenia có tỷ lệ ung thư cao hơn nhiều so với đồng hương của họ-những người ăn chay ở Trung Quốc và Ý. Một nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng Seventh -Day Adventist, những người có một chế độ ăn chay, có tỷ lệ ung thư thấp hơn so với ăn thịt ở Mỹ.

Theo Dân trí

Friday, December 13, 2013

Hai người “điên” nuôi hơn 400 người… tâm thần



Người điên ở trại tâm thần nam hát cho nhau nghe
 
Theo Lao động
 
www.duongdoimuonneo.blogspot.com - Người ta gọi vợ chồng ông Bùi Văn Thu, bà Trần Thị Tươi - chủ nhân cơ sở bảo trợ tư nhân Trọng Đức ở Lâm Đồng - là hai người “điên”. 

Lý lẽ rằng, chỉ có “người điên” mới bao nhiêu năm nay chạy vạy nuôi ăn ở miễn phí hơn 400 người bị tâm thần trong nhà mình, mà “nguồn lợi” duy nhất vợ chồng họ thu lại được chỉ là niềm vui, cảm giác hạnh phúc khi chứng kiến sự hồi sinh kỳ diệu từ những “bệnh nhân” của mình...
 
Theo tiếng gọi người điên

Trước khi đến cơ sở bảo trợ xã hội tư nhân Trọng Đức ở xã Bình Thạnh, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng), tôi đã hình dung đó là một trại nuôi nhốt người tâm thần với toàn những chuyện kinh hãi. 

Nhưng lạ thay, 400 bệnh nhân tâm thần nam, nữ ở hai khu riêng biệt đều rất hiền lành, vô hại, thậm chí bảo gì nghe nấy.

 Ở đây tôi chỉ thấy người điên đi loanh quanh, vừa đi vừa hát. Có anh ngồi trong góc lắng nghe bạn hát, ngắm nhìn bạn đi... 11 giờ trưa, chiếc loa phóng thanh chậm rãi phát hiệu lệnh: “Tất cả đi rửa tay, xếp hàng trật tự vào nhà ăn”. 

Vậy là hàng trăm người điên lục tục ra bể nước rửa tay, rồi vào phòng ăn ngồi trật tự như những đứa trẻ ngoan. 

Bà Trần Thị Tươi nói: “Ở nhà bướng bỉnh, hung hăng vậy, chứ vào đây là hiền như cục đất”.
 
Trước mặt tôi là bệnh nhân Nguyễn Mạnh Cường, 37 tuổi - nhà chỉ cách cơ sở bảo trợ xã hội Trọng Đức hơn cây số - đang ngồi ăn từ tốn, vui vẻ trả lời phần lớn các câu hỏi đơn giản của tôi. 

Vậy mà lúc ở nhà, gia đình phải nhốt anh ta với một dây xích to bằng cổ tay. Mỗi lần thả ra, Cường nhảy chồm chồm, thấy bất cứ ai cũng lao vào bóp cổ, cắn xé... 

Ông Nguyễn Văn Hùng - bố của Cường - kể lại: “Nó bị bệnh nhưng khỏe lắm, mỗi lần lên cơn điên là không ai giữ nổi. 

Một lần bứt xích chạy qua nhà dòng đập phá, tôi huy động 5 thanh niên không làm gì nổi, kêu thêm 5 đứa nữa mới vật được nó ra xích lại. 

Trong nhà này nó đánh tôi nhiều nhất, vì nó ghét đàn ông, mà tôi là thằng đàn ông duy nhất gần gũi nó. Ban đêm nó hú vang như chó sói, cả xóm này không ai ngủ được. 

Hồi mẹ nó mất, cơ sở cho về chịu tang, ở nhà được một lúc, nó vác dao đuổi chém người ta, tôi phải gọi cho cơ sở xuống đưa nó đi gấp. 

Lúc đi Bệnh viện Tâm thần trung ương 2, bác sĩ bảo nó bị đứt một dây thần kinh rồi, suốt đời không chữa được.

Vậy mà gửi cho ông Thu, nó hiền khô, sai bảo gì cũng làm. Mỗi lần tôi vào thăm, nó còn nói chuyện tử tế lắm”.



Đang trò chuyện với PV Lao Động, ông Bùi Văn Thu nghe điện thoại của một gia đình ở Đồng Nai xin gửi bệnh nhân tâm thần.

Ở cơ sở bảo trợ xã hội Trọng Đức, tôi còn gặp một anh Cường nữa - Nguyễn Huy Cường, 24 tuổi, quê xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa). 

Anh này cũng được cơ sở đánh giá là hiền lành, chăm chỉ quét sân, lau nhà, rửa chén bát, biết gọi dạ bảo vâng. 

Ông Nguyễn Huy Sân - bố của Nguyễn Huy Cường - cho biết, lúc ở nhà Cường bị bệnh hoang tưởng, gặp ai cũng tưởng kẻ thù, chính ông cũng “no” đòn với con trai. 

Mỗi năm Cường đi bệnh viện tâm thần vài tháng, nhưng về một thời gian lại tái phát, lần sau nặng hơn lần trước. 

“Nhưng từ khi vào đây nó bỗng hiền khô, bảo gì cũng vâng lời, chưa bao giờ chửi hoặc đánh ai mới lạ chứ” - ông Sân ngạc nhiên.
Vợ chồng ông Sân là cán bộ về hưu, 3 con gái đều đỗ đạt và có gia đình riêng, Cường là con trai độc nhất. Đã 6 năm nay, từ khi Cường mắc bệnh tâm thần, vợ chồng ông Sân cũng đến cơ sở bảo trợ xã hội 

Trọng Đức ở hẳn, không thiết về quê. Ông Sân nhận xét: “Bệnh nhân ở đây ngoan hơn đến bảy, tám chục phần trăm so với các bệnh viện tâm thần mà tôi biết. 

Ở bệnh viện tâm thần chẳng đêm nào tôi ngủ được, vì họ la hét, đập phá, nhưng vào đây lại ngủ rất ngon. Mà đây toàn bệnh nặng, gia đình chạy chữa khắp nơi không khỏi mới đưa vào”.

Đến “nhà điên”... hết điên

Điều kỳ diệu là không ít người tâm thần, sau một thời gian được ông Thu, bà Tươi chăm sóc đã khỏi bệnh, trở về xây lập cuộc sống mới. 

Cũng có người không chịu về như ông Trần Hoàng Lương - trú phường 4, thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng). 

Ông Lương tâm sự: “Tôi bị tâm thần nặng, người nhà phải xiềng xích chân tay suốt 15 năm, đây còn những vết sẹo sâu đến tận xương. Sau bao năm sống u mê tăm tối, chính nơi này đã cho tôi trở lại làm người. 

Giờ tuổi đã lớn, không vợ con, tôi xin ở lại trả nghĩa cho ông bà Thu, cũng là để chăm sóc những người điên khốn khổ như tôi một thời”. 

Số bệnh nhân khác sau một thời gian điều trị bệnh đã thuyên giảm hẳn, nhiều người ra ngoài lao động tự do, chỉ trưa và tối mới trở về nhà ông Thu ăn cơm, nghỉ ngơi. 

Ông Nguyễn Huy Sân nhận định, con trai ông vẫn chưa khỏi hẳn, nhưng bệnh đã giảm được sáu, bảy mươi phần trăm so với lúc ở nhà. 

Mắt ông sáng dần lên với câu chuyện của mình: “Trước cứ nhìn thấy tôi là nó lao vào đánh, còn bây giờ hai bố con nằm chung, tâm sự đủ thứ chuyện rồi mới ngủ. Tôi nhắc chuyện lúc nó còn bé, nó nghe xong công nhận bố nói đúng. 

Nó hỏi ở quê bây giờ ra sao, ai còn, ai mất, cái chuồng heo bị nứt đã sập hay vẫn còn... Nó được như vậy, tôi mừng rơi nước mắt. Tôi tin rồi con tôi sẽ khỏi bệnh, như các trường hợp mà tôi được chứng kiến trong 6 năm ở đây”.

Tôi hỏi có bí quyết gì chữa bệnh tâm thần không, ông Bùi Văn Thu lắc đầu: “Có bí quyết gì đâu. 

Tôi chỉ nghĩ nơi này khí hậu mát mẻ, thích hợp với bệnh nhân tâm thần, có câu nóng quá hóa điên mà. 

Mặt khác, chắc phương pháp chữa bệnh mà tôi tự nghĩ ra cũng có phần đúng. 

Đó là lao động hợp lý giúp người bệnh an thần, cải tạo trí nhớ, khôi phục các năng lực hành vi đã mất. Tôi còn tập hát cho bệnh nhân nữa, mỗi tuần hai buổi. 

Bệnh nhân hát không hay, nhưng họ thích hát lắm. Khi hát họ vui, nhờ vậy đỡ căng thẳng thần kinh...”. Còn bà Trần Thị Tươi cho biết, ngoài ăn uống theo chế độ bình thường ngày 3 bữa, tất cả các bệnh nhân đều được uống một loại thuốc an thần nhẹ vào buổi tối cho dễ ngủ. 

Chính ông Nguyễn Huy Sân là người được ông Thu, bà Tươi giao nhiệm vụ phát thuốc, vì lúc đi bộ đội ông Sân làm y tá. Ông Sân cho biết, đó là viên nén Aminazin - một loại dược lý hướng tâm thần, không có vai trò quyết định đối với bệnh nhân ở đây.

Chủ nhà cũng hết “điên”

Việc ông Thu, bà Tươi nhận người điên về chăm sóc, nuôi dưỡng miễn phí ban đầu cũng rất tình cờ. 

Trong chuyến đi từ thiện ở xã vùng sâu Liêng S’rôn (huyện Đam Rông) 7 năm về trước, bà Tươi gặp một người đàn ông tâm thần bị nhốt trong cũi sắt. 

Bà Tươi rơi nước mắt, rồi xin đưa về chăm sóc, coi như cứu mạng người. 

Đó là ông Chu Ru, người dân tộc K’Ho, hiện đang sống tại cơ sở Trọng Đức, không phải nhốt nữa. Sau Chu Ru, vợ chồng bà Thu nhận thêm một số người nữa. 

Rồi nhà cửa chật chội, vợ chồng bà Tươi phá vườn càphê làm nhà cho họ ở riêng. 

Tiếng lành đồn xa, nhiều gia đình khắp trong nam, ngoài bắc lần lượt đưa thân nhân mắc bệnh tâm thần đến nhờ cậy. Người tốt bụng gặp người tâm thần lang thang cũng dẫn về gửi  ông bà chăm sóc. 

Căn nhà ấy cứ rộng dần, cho đến khi UBND huyện Đức Trọng ra quyết định cho phép thành lập cơ sở bảo trợ xã hội tư nhân Trọng Đức vào năm 2006. 

Hiện cơ sở Trọng Đức có 14 người làm việc chuyên trách, 50 người làm việc không thường xuyên, tất cả đều làm từ thiện.

Tôi hỏi tiền đâu nuôi hơn 400 người bệnh, mỗi ngày hết 6 - 7 triệu đồng, ông Thu chìa cuốn sổ ghi chép số tiền, quà của các đoàn từ thiện đến thăm. 

Bà Tươi nói thêm: “Khi thiếu đói được các vựa gạo bán chịu không lãi, các vựa rau cho không lấy tiền, vật liệu xây dựng cũng được mua giá rẻ... 

Nhiều người bảo tôi có nguồn tiền nước ngoài, mà thực tế tôi có gì đâu”.

Nhớ lại những ngày đầu, ông Thu kể: “Gia đình nào có người tâm thần cũng muốn đưa vào cơ sở xã hội để tránh bị hành hung, để yên cửa yên nhà, còn mình lại tìm người điên đưa về nuôi dưỡng. 

Bởi vậy, người dân vùng này nói vợ chồng tôi có vấn đề về thần kinh, rồi chữ “điên” được người ta gắn luôn vào sau tên chúng tôi”.
 
“Điên” vậy đấy, nhưng với tình yêu thương vô điều kiện, ông Thu, bà Tươi đã làm nên những điều kỳ diệu, trở thành ân nhân của hàng trăm gia đình có bệnh nhân tâm thần nặng. 

Tôi không nhịn được cười khi chia tay tôi, ông Thu ghé tai nói nhỏ: 

“Nói vậy thôi chứ bữa này không còn ai gọi vợ chồng tui là người điên nữa rồi. Cuối cùng thì họ cũng hiểu...”.

7 viên xá lợi bí ẩn của ni cô sau khi viên tịch



 xá lợi của ni cô Huệ Tánh.

  

Theo Đời Sống Pháp Luật

 

Khi viên tịch, ni cô Huệ Tánh, một vị nữ chân tu tại Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm (Quảng Ninh) đã để lại 7 viên xá lợi lấp lánh. 


Trong những ni sư đã tu hành đắc đạo ở đây, ni cô Huệ Bảo cho biết, trải qua quá trình chân tu khổ hạnh, đắc đạo về với cõi Phật, ni cô Huệ Tánh đã để lại cho đời 7 viên xá lợi trong di cốt của người. 

Đây là việc khá hy hữu bởi xá lợi thường được cho là chỉ tìm thấy ở những vị tăng chân tu (nam giới)...


Cũng theo ni cô Huệ Bảo, việc phát hiện ra xá lợi của ni cô Huệ Tánh là do các phật tử phát hiện ra. Chị Thanh Tâm, một trong những Phật tử đầu tiên phát hiện ra xá lợi của ni cô Huệ Tánh cho biết: 

"Ngày ni cô Huệ Tánh về với cõi Phật, nhà chùa đã làm lễ và đưa ni cô đến đài hóa thân An Lạc Viên (Cẩm Phả - Quảng Ninh), sau khi hỏa táng, đại diện của đài hóa thân yêu cầu nhân thân bốc tro cốt để lưu giữ, các Phật tử đã bất ngờ khi thấy các hạt xá lợi trong tro cốt của người.


Cũng theo đại diện của đài hóa thân, trong hàng nghìn người, trường hợp của ni cô Huệ Tánh là một trường hợp hiếm gặp. Khi các Phật tử thu dọn tro cốt của người, mọi người ngạc nhiên vì thấy những hạt lấp lánh mà chưa ai từng tận mắt thấy. 

Mọi người đếm được rất nhiều viên, nhưng nổi bật nhất là 7 viên xá lợi lấp lánh".


Mọi người trong Thiền viện đã tập hợp những viên xá lợi của ni cô Huệ Tánh đem đựng trong một bảo tháp nhỏ và thờ tự tại chánh điện. Trong bảo tháp, những hạt xá lợi kết tụ với nhiều hình thù khác nhau, một số hạt xá lợi có màu hồng nhạt, rất trong và lấp lánh khi được đựng trong bảo tháp pha lê.


Cuộc đời chân tu của ni cô Huệ Tánh đầy khắc khổ nhưng đắc đạo. Có lẽ chính cuộc đời chân tu ngộ đạo của thầy đã tạo trong tro cốt của thầy có nhiều xá lợi đến vậy. Trong Phật pháp, chỉ có những nhà chân tu thành chính quả mới có thể để lại xá lợi cho đời.



Di ảnh của cô Huệ Thanh.
Di ảnh của cô Huệ Tánh.

Tâm sự về quá trình tu hành của ni cô Huệ Tánh, ni cô Huệ Bảo cho biết, cả cuộc đời của ni cô Huệ Tánh là cả một hành trình ngộ đạo đầy gian khổ. Sau khi trải qua thời gian pháp sám hối ngũ hối, trì chú Chuẩn Đề và tu Pháp Hoa, ni cô sống cuộc đời thanh đạm. 

Cũng đã có thời kỳ ni cô Huệ Tánh phải trải qua cảnh uống nước suối, ăn măng rừng. Khi về với cõi Phật, thân tâm của ni cô trở nên thanh thản, nhẹ nhàng như hư không.


Ni cô Huệ Bảo chia sẻ, việc hình thành xá lợi sau khi viên tịch là một điều rất hiếm gặp, chỉ những vị cao tăng đắc đạo mới có thể để lại cho đời xá lợi. 

Việc hình thành xá lợi cũng chưa có sự lý giải thuyết phục nào từ khoa học. Theo ni cô Huệ Bảo, khi chiêm bái cùng một viên ngọc xá lợi, nhiều người đã thấy các màu sắc khác nhau, tùy theo nghiệp nặng nhẹ của mỗi người.


Ngọc xá lợi là những viên có hình thể hơi tròn và cứng, lớn nhỏ khác nhau. Viên lớn như hạt đậu hạt ngô (bắp); viên nhỏ như hạt gạo, hạt mè. 

Xá lợi có nhiều màu sắc và sáng đục khác nhau. 

Thông thường, xá lợi có màu trắng, đỏ, hồng, xanh và vàng, 

Có thứ trong như thủy tinh, 

Có thứ trắng ngà như hạt gạo, 

Có thứ phát ra ánh sáng nhẹ nhàng như pha lê, 

Cũng có thứ màu sáng nhuận như san hô. 

Ngọc xá lợi là thành quả của công phu tu hành giữ gìn giới luật và công năng tu tập thiền quán cao thâm của đức Phật và các vị cao tăng.


Ngọc xá lợi của Đức Phật, tương truyền có thể biến hóa từ ít thành nhiều, từ nhỏ thành lớn và tỏa ánh sáng hào quang. 

Sự biến hóa kỳ diệu này phải do sự thành tâm lễ bái chí thành của người có đạo tâm. 

Riêng xá lợi Răng và Xương của Đức Phật thì không có sự biến hóa ít thành nhiều, do vậy bảo tháp thờ xá lợi Răng và Xương rất hiếm, riêng tháp thờ Ngọc xá lợi thì nhiều.


Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Tổng Thư ký, Chánh Văn phòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho biết: "Trong tu hành, việc tu hành công phu, thiền định, niệm Phật, đạt đến công năng nhất định, giữ tâm thanh tịnh, thì sẽ để lại những gì tinh túy nhất, cái mà tinh túy kết tinh đó sau khi hỏa thiêu, thuật ngữ gọi là trà tỳ, kết tinh đó được gọi là xá lợi, nhưng ai tu hành đạt được mức độ đó đều có thể để lại xá lợi".

Theo Đời Sống Pháp Luật
 
Copyright © 2013 TÂM LINH | Powered by Blogger