Monday, September 15, 2014

Hạnh Ôn Nhu




Chữ rằng: Lập Hạnh Ôn Nhu (1)

Nam Nữ ai tu thì hành.

Ôn-Nhu là pháp sửa mình;

Lòng mình có thắng, mới hòng thắng ai?!

Thuở xưa Thích Ca Như lai.

Ngài khuyên bá tánh hôm mai thắng lòng!

Thắng lòng mới thiệt ANH HÙNG!

Thắng lòng oanh liệt chiến công nào bằng?

Thắng lòng là thắng vọng tâm (2)

Hơn thắng muôn vạn hùng binh bên ngoài!

Ngồi buồn nói chuyện dông dài,

Nói xuôi nói ngược, nói hoài ÔN NHU

ÔN-NHU là một phép tu.

Trong muôn vạn pháp ÔN-NHU đứng đầu.

ÔN-NHU là một pháp nhiệm mầu.

Ai tu cũng đặng nên câu Đạo lành.

Bá gia cố gắng tập tành,

Noi gương chư Phật thực hành ÔN-NHU.

ÔN-NHU mới phải người tu!

ÔN-NHU là đạo thiên thu sống còn!

ÔN-NHU nghe nói tuy thường,

Nhưng ai hành được như vàng ngàn cân!

ÔN-NHU thường trụ nơi tâm,

Tam bành lục tặc dần dần dang xa.

Gương lành bủa khắp bao la.

Anh hùng đạo đức tiếng ta thơm lừng!

ÔN-NHU pháp quý vô cùng.

Giúp người giải thoát khỏi vòng nạn tai!

Bá gia chẳng luận gái trai,

Tu hành gìn giữ hoài hoài ÔN-NHU.

(Hòa thượng Thích Giác Sở)

.........................

(1) Ôn-Nhu: là đức tánh dịu dàng, mềm mỏng, từ tốn, nhân hậu, Ôn hòa, Giãn dị, không nóng, không lạnh.

(2) Vọng-Tâm: Là ý tưởng không thật sự mong cầu, mơ ước trông chờ, mong đợi; làm cho người phiền não, khổ sở, phiêu lưu.

Trái ngược với chơn Tâm của chư Phật. vọng Tâm là chúng sanh.


Tâm Bình Nghĩa Nhân trọn




 Mặc ai mặn lạt phấn vôi,

Riêng ta, ta vẫn như hồi năm xưa.

Mặc ai thêu dệt thiếu thừa,

Riêng ta, ta vẫn như bình nước trong.

Mặc ai lòng dạ bưởi bòng,

Riêng ta, ta vẫn hậu nồng với ai.

Đừng lòng nay đổi, mai rời,

Mà quên Nhân - nghĩa để lời oán ân.

Mặc ai phai lạt nghĩa nhân,

Riêng ta vẫn giữ thủy chung không rời.


Gần đạo Bồ-đề Bình chăn Heo,

Phạt người ỷ sức trèo cao.

Tháng năm săn sóc nuôi Heo lớn,

Heo thưởng cho người Đức tài trau.


Bên cội Bồ-đề có nuôi Heo,

Bớ hỡi! Bắc Nam vững lái lèo.

Biển lặng Đông-Tây chờ Heo lớn!

Heo về có thưởng giải cheo leo!


Bên cội Bồ-đề có bán Heo

Bán Heo không phải Vị Tăng nghèo.

Heo bán độ người khỏi cheo leo!

Ai khách Nghĩa -nhân ghé mua nào?


"Cây cao trái chín chưa chắc đậu,

Phải lựa nhiều lần bỏ trái sâu.

Qua cơn sóng gió âu sầu,

Thảm thương dưới gốc mấy  mầu trái non!"

(Cây Bút Thần/Hòa thượng Thích Giác Sở)
 




Cây Bút Thần: Đáp Xuân




Bài thơ sấm truyền của Hòa thượng Thích Giác Sở cho xuất bản trước Tết Mậu Thân vài năm, ngài đã tiên đoán tương lai của cái Tết Mậu Thân đầy tang thương....

Xuân rằng: Vắng mặt tam thiên.

Mai danh ẩn sĩ coi tuồng khuyển kê,

Dứt màng kê khuyển Xuân về..!

Cho hay bá tánh khỉ kia bệnh tà.

Xuân than! Khỉ nóng quá ta!

Đầu Xuân khỉ chết cửa nhà tang hoang! (Tết Mậu Thân năm 1968)

Hạ Thu khôn xiết thở than!

Đông tàn hoa rụng đỏ đường khó đi!

Xuân gà còn lắm lâm ly,

Tây Phiên đến họa hậu kỳ đầu Xuân,

Thương dân khó nỗi thở than,

Kẻ đói người rách tràn lan thị thành!

Chó điên Xuân trị chưa lành (1970 nạn "Cáp Duồn" chặt đầu người Việt ở Cao Miên)

Thây phơi chết đói vắng tanh xóm làng!

Nói ra nước mắt hai hàng!

Khuyên trong bá tánh ráng làm lành thêm

Heo về chuồng cũ mới yên.   (.......? ? ?)

Chúa tôi ban thưởng chị em khó bàn.

Chuột nhỏ ca khúc khải hoàn,   (......???)

Quân thần Minh chúa hiền lương vui vầy,

Trâu bạc đã tới ruộng cày,   (.....???)

Thượng ngươn Thánh đức chiều mai cũng gần

Khuyên dân giữ dạ keo sơn,

Tu hành nhường nhịn thiệt hơn quãn gì.

Thi ân bố đức từ bi,

Noi gương chư Phật họa thì tiêu tan.

Đến khi lâm nạn Phật sang cứu rày.

Nói cho bá tánh đều hay,

Chư Phật thường ngày chờ đón chúng sanh.

Người tin dốc chí tu hành.

Không tin tai nạn cam đành nào hay sai!

Nam mô từ bi như lai.

Độ cho già trẻ gái trai kịp kỳ.

Nam mô Quan Âm từ bi.

Độ cho bá tánh đừng đi lạc đường,

Nam mô Đại Hạnh Phổ Hiền.

Độ cho bá tánh về miền lạc bang,

Thương dân bút tả ít hàng.

Để cho nam nữ biết đàng tầm tri.
 
(Cây Bút Thần/Hoà thượng Thích Giác Sở)


Wednesday, September 10, 2014

Cây bút thần




Cây Bút Thần là một tác phẩm thuộc loại"sấm giảng" được Hoà thượng Thích Giác Sở viết (trước năm Mậu Thân 1968) đã chứng tỏ khả năng đặc biệt của ngài khi tiên đoán về tương lai Việt Nam với những nổi trôi của vận nước, qua ngòi bút huyền thoại của ngài....

Sấm ghi rằng:

Bút thần tả chút cơ huyền,

Giúp người Tâm đạo sớm tròn chữ tu.

Nam nữ già trẻ công phu,

Cải ác tòng thiện dại ngu cũng thành.


Sài thành ơi!

Có phong ba,

Mưa đá lớn,

Vô vi đạo,

Huyền diệu mà,

Cứu người ta,

Qua nạn khổ,

Thời kỳ này,

Vận sắc đỏ,

Tiếng vang lừng,

Thi thố tài,

Đời tiêu ma,

Hao tốn của,

Vô số kẻ,

Đạo nghĩa tà,

Sáng mai tới,

Nhật chiếu ra,

Mừng sáng soi,

Chiếu nhà nhà,

Qua đêm tối,

Hết vận khổ,

Thời gian qua,

Con chó tơ, (năm 1970, năm Tuất cũng là năm mà nạn "cáp Duồn" (chặt đầu người Việt được phát động ở Campuchia)


Bán ngoài chợ,

Vợ bảo chồng,

Hai vạn đồng,

Mua không được,

Gấu, Cọp, Beo!

Tranh đua hùng,

Dê hết vía,

Khỉ hết hồn, (năm 1968)

Lo chạy trốn,

Đầu Xuân Mới, (Tết Mậu Thân năm 1968)

Xóm làng cháy,

Lầu đài tan?

Cảnh lầm than,

Người chết chóc,

Màn tan tóc,

Chưa hết đâu!

Dân lo âu,

Sầu chưa vợi

Tới cặp Rắn,

Tìm chỗ ẩn,

Trốn không rồi,

Khỉ than ôi!

Vì nghiệp quả,

Người ăn năn,

Xin xả đọa.

Gấp tu hiền,

Phật chứng liền,

Kẻ nghênh ngang,

Mắc tai nạn,

Chớ kêu than,

Con Khỉ độc! (năm 1968, Tết Mậu Thân)

Nhiều tang tóc,

Khắp nơi nơi,

Dân làng ơi!

 Bao tử nóng,

Kêu gọi Gà,

Gáy thức tỉnh,

Tìm đường về,

Xin đừng mê,

Xuân Gà ghê!

Cảnh thảm thê, (năm 1970) Xem tài liệu ghi lại những năm người Việt sống ở Campuchia bị "cáp Duồn" xem ở phần số #8

Tai họa lớn,

Tới liền liền,

Trách Tây phiên, ( người Campuchia, nạn "cáp Duồn" người Việt Nam ở Campuchia)

Tài gây họa,

Có người lạ,

Báo tin cho,

Chó bị điên! (năm 1970 là năm Tuất, mỗi ngày hàng trăm người Việt sống ở Campuchia bị "chặt đầu" thả trôi trên sông Mekong và hồ Tonle Sap )

Tiền gạo hết,

Dân chớ phiền,

Tìm thuốc trị,

Vườn cây thị!

Nhà bỏ hoang;

Người chết đói,

Đầy xóm làng,

Dân Nam bang, (Việt kiều sống ở Campuchia)

Tai nạn có,

Bởi người quê,

Kẻ ỷ thị,

Chẳng suy nghĩ,

Chê Phật Trời.

Lo ăn chơi,

Cho phỉ chí,

Giờ suy nghĩ,

Đã muộn rồi,

Heo ăn chơi!

Kẻ thức thời,

Gánh việc đời.

Theo ngôi thứ,

Lời tình tự,

Nói ngược xuôi,

Dân ta ơi!

Muốn an vui,

Giữ đạo đức,

Xa họ tiếc,

Dứt của tiền,

Giải thoát luôn,

Lên Tiên ở,

Gần Phật Tổ,

Chuột đào lỗ!

Ai thi đỗ,

Ca hát chơi,

Dân Quân Minh,

Trâu thong thả!

Gần thượng cổ,

Vui niết bàn,,

Muôn ngàn đời,

Khỏi phong ba,

Ta bà cực!

Đừng tham dục,

Thì hết mê,

Đắc trí huệ,

Hỡi anh chị!

Thức dậy về,

Chư Phật đợi,

Bậc linh căn,

Người cõi dục,

Tánh siêng năng,

Trao dồi Đạo,

Đức hạnh cao,

Cứu đồng bào,

Cho họ vào,

Thuyền lục độ,

Qua biển khổ,

Đến với Phật,

Cõi chơn phước,

Sống bất diệt,

Hưởng hạnh phúc,

Muôn ngàn đời,

Nơi cứu cánh,

Là hết khổ...

Bài toán đố,

Nói chuyện chi?

Ai mà hiểu đặng,

Tên ghi sổ vàng!

Lời nói thẳng,

Ý nghĩa đen,

Đừng bàn trắng,

Khuyên cố gắng,

 Sửa tâm thôi.

Ai biết rồi,

Lo tự độ.

Gương Phật tổ.

Tu hành theo;

Vượt qua đèo,

Thoát cheo leo!

Đến đèo heo,

Cảnh vắng teo,

Người thưa thớt,

Nhắc đoạn này,

Lòng bi ai,

Rất thương xót,

Xin dừng bút,

Chúc bá gia,

Nhờ ơn Phật.

Tiếp dẫn cho,

Tới An lạc,

Đời Thánh Đức.
(Hoà thượng Thích Giác Sở)






 



Lý tưởng




Lý tưởng là cái tột đẹp mình tưởng tượng và theo đuổi. "Đời sống lý tưởng" làm cho hợp ý tưởng tượng của mình.

Sáu đức trong lý tưởng

"Trí, Tín, Nhân, Dũng, Nghiêm, Hòa"

Là tường thành kiên cố, tàu xe về cõi chơn phước. Định hướng vươn lên lý tưởng.

Trí 

Là sự thông hiểu trong đầu óc. Trí có: Trí óc. Trí thức, và Trí tuệ.

a. Trí thức: thuộc về hình nhi hạ học, cái có vật chất hữu hình.

b. Trí tuệ: thuộc về hình nhi thượng học, vô hình, siêu hình.

Trí thức và trí tuệ thuộc kho tàng văn hóa vĩ đại của thế giới, đã và đang hình dung, phát huy các giá trị bách khoa giúp nhân loại mưu tìm sự sống tốt hơn và vươn lên lý tưởng, sự kiện này được hoan nghênh

"Văn hóa là chìa khóa của mọi sự thành công".

Tín

Là tín thực, sự chân thật, lòng chân thành không dối trá ..... Tín có: một là người, hai là vật chất.

a. Tín về người: người chân thật, người tốt..... nếu có thêm tài, đức thì được tin cậy trọng dụng hơn....

b. Tín về vật chất, vật dụng: Là hàng hóa tốt, có chất lượng, có giá trị trên thị trường và được nhiều khách hàng chiếu cố...

Tóm lại: Đức tín là sự nghiệp và là điều rất quan trọng trong các quan hệ xã hội. Nói lên danh dự cũng như nghề nghiệp của con người.

Đức tín là một nhân tố hạnh phúc và thực sự "lý tưởng"

Nhân

Có mười điều:

1. Nhân: là người, người tốt, việc tốt. Nhân tánh, Thiên tánh, Thần tánh, Thánh tánh, Phật tánh..... Nhân tánh tốt là hoàn thành nghĩa vụ làm người có nhân cách.

2. Nhân: là nhân đạo, nhân từ, nhân ái, nhân đức, lòng nhân, thích giúp đỡ mọi người .....

3. Nhân đạo chủ nghĩa: Thuyết cho rằng đạo làm người là phải đặt quyền lợi con người lên trên tất cả.

4. Vạn năng sinh hóa:

(a) Thuyết cho rằng tạo hóa sinh ra con người và dành cho con người quyền tự do sống và quyền sống này được bảo đảm bởi trật tự xã hội.

(b) Tất cả mọi nhu cầu cho sự sống của con người đều do bàn tay của con người làm ra và do đó xã hội nhìn nhận ý nghĩa này và quyền hưởng phúc lợi, tức con người làm ra của cải để hưởng hạnh phúc.....

5. Nhân bản chủ nghĩa: cho rằng con người là căn bản, là mực thước của mọi vật, nghĩa là tất cả mọi kiến thức đều tùy thuộc bản tánh con người và những nhu cầu chính yếu của họ.

6. Nhân văn chủ nghĩa (triết): chủ nghĩa lấy văn minh loài người làm chính và tin tưởng rằng sự giải thoát con người là do con người tự tạo lấy .....

7. Nhân văn: Văn minh loài người, kiến thức, tư tưởng nhân loại, siêu việt.

8. Nhân cách: tư cách của một người tốt.

9. Nhân cách hóa: làm cho con người đẹp lên. Thí dụ: tư cách pháp nhân, là tư cách con người trước pháp luật và được thừa nhận tốt, không thiếu sót....

10. Đạo đức nhân loại: quan niệm rằng hiện nay loài người đang tùy thuộc địa phương và đường lối có khác, nhưng cùng hướng về chân trời thiện mỹ.

Tóm lại, Nhân là người, là nhân cách, đức độ, lịch sự, điều thiện, ấy là một trong những tác phong văn hóa phù hợp với đời sống xã hội, hoàn thành nghĩa vụ làm người và vươn lên lý tưởng "Thiện".

Dũng

Có 3 khái niệm:

a. Dũng là dũng cảm, oai dũng, sự can đảm, hăng hái, mạnh mẽ ... vì điều thiện, việc nghĩa và khi cần người dũng có thể quên mình vì chính nghĩa....

b. Dũng là sự nghiêm răn, tự thắng mình và khoan hồng tha thứ, nên nói dũng là việc khó mà làm được, dũng ấy sanh ra tài đức, "người mưu trí".

c. Dũng là sự vươn lên, thí dụ khi hữu sự, có sắc chiêu mộ hiền tài, người dũng được trọng dụng .... Dũng là danh từ đạo lý trong ba danh từ, tôn chỉ của đạo Phật là Bi, Trí, Dũng cũng là gương hạnh tốt và danh dự. "Dũng này không trái với trật tự xã hội hoặc bất nghiêm, là luật định".

Tóm lại: Dũng là phong cách, khí phách phi thường.

"Dũng là đạo người quân tử".

Nghiêm

Có 3 khái niệm:

a. Nghiêm là không sai chạy, giữ đúng lề lối.

b. Nghiêm trang, đoan trang, không hay cười đùa vẻ mặt nghiêm và tỏ ra có đức hạnh tốt, biết xử trí, xử sự, biết tự trọng và tôn trọng kiến thức khác.

"Không tham lợi bỏ nghĩa".

c. Nghiêm không phải là nghiêm khắc hoặc quá nghiêm, vì nghiêm khắc là khắc nghiệt và quá nghiêm đều dẫn đến sự khổ cho cả chủ và khách khi sử sự, tức là trái ngược với nghiêm túc, nghiêm minh, và công lý.

Có người bình thường thì vui tính nhưng khi làm việc thì nghiêm minh, "bản lĩnh"

"Nghiêm là chơn lý trung dung và đức huệ lớn"

Nghiêm là nghiêm nghị, nghiêm minh của cấp lãnh đạo chính quyền các cấp để làm bổn phận, thì hành sứ mệnh.....

Nghiêm, xưa: Nghiêm quân là đức của Vua.

Nghiêm quốc là đức của nước.

Nghiêm dân là đức của dân.

Nghiêm quân lệnh là đức của nhà binh,

Nghiêm pháp là đức của pháp luật.

Nghiêm từ là đức của cha mẹ.

Nghiêm sư là đức của thầy.
 
Tóm lại, Nghiêm là đạo lý quan trọng trong đời sống nhân loại, thiếu đạo lý này gọi là bất nghiêm và chưa ổn định.

Nghiêm sanh ra đức nghiêm, đức ấy là sự nghiệp "vươn lên lý tưởng".

Hòa

Có 3 khái niệm:

a. Hòa là hòa hợp, sự hiệp lại, hòa hợp các hóa chất thành một mô hình; hòa tức là thuận, không nghịch, không bất hòa; hòa là nhân tố xây dựng vui vẻ cửa nhà.

Thí dụ: "Chị em hòa thuận cho yên cửa nhà"

b. Tính chủ hòa: thái độ ôn hòa, không khí thuận hòa....

Hòa nhà thì nhà an vui

Hoà xóm làng thì xóm làng thịnh vượng

Hòa nước nhà thì quốc gia phú cường

Hòa thế giới thì nhân loại yên bình.

"Tâm hòa thì trí sáng, trí sáng thì tánh linh, tánh linh thì thanh lọc, thanh lọc thì siêu thoát".

c. Hòa bình, hòa hội, hòa giải, hòa đàm....: Hội nghị bàn về hòa bình để chấm dứt chiến tranh và xây dựng ....

- Hòa bình chủ nghĩa: thuyết cho rằng muốn hòa bình phải giải quyết những vụ xung đột bằng thương thuyết.....

- Quan niệm khác: giải quyết chiến tranh bằng kiến thức yêu chuộng hòa bình và xây dựng....

Tóm lại, Hòa là chơn lý sống và xây dựng tốt trong mọi lãnh vực xã hội.

Hòa sanh ra đức, đức ấy là sự nghiệp thiện là "Lý tưởng"

"Vui vẻ là liều thuốc bổ, Hòa là viên thuốc an thần".

Sáu Đức

1. Là nhân tố quyết định vươn lên "lý tưởng"

2. Ở thế gian đang mang ý nghĩa hướng thượng mà sáu đức là một trong những kiến thức phù hợp thời đại và tính triết lý này hướng thượng là sự thật.

3. Sáu đức vươn lên lý tưởng và sự thật này nói lên mãi ý nghĩa đạo đức và giá trị sống con người.

4. Hình nhi thượng (triết), thông cảm và thuận với nghĩa sống hướng thượng.

5. Sự thông cảm lẫn nhau trong các quan hệ xã hội bởi kiến thức hướng thượng.

6. Bất cứ người nào thuận các quan điểm trên cũng như làm việc phải tận tụy thì người ấy có phước huệ trang nghiêm.(Hoà thượng Thích Giác Sở)







Khuyến thiện




Khuyến thiện

Bài khuyến thiện này, Hòa thượng Thích Giác Sở viết tuy ngắn, nhưng xúc tích, và có mục đích xây dựng, trong khi đạo lý đang suy đồi, xuống dốc, ngài cũng muốn gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại hãy nên trao dồi bản thân để có thể tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn với những công dân luôn biết giữ bổn phận của mình. 


Thí dụ:

- Đạo gia đình
- Đạo làm người trong xã hội

Những đạo đức trên sẽ tạo được "Thiện cảm" và nhân quả lành, sẽ được người người mến trọng, kính nể.... 
 
Những lời vàng ngọc của ngài được gói ghém trong những vần thơ trong sáng và dễ hiểu rất thích hợp với tất cả mọi người.


Hạnh từ thiện


"Mỗi việc thiện là mỗi hạnh phúc, tất cả việc thiện là hạnh phúc hoàn mỹ"


"Một miếng khi đói, hơn một gói khi no, đó là những suy nghĩ của người biết đạo đức, và biết chia sẻ".


"Có Tài mà giúp đời, Tài ấy khả kính, cũng như thế, có Đức mà đem cho người, Đức ấy càng lớn".

........................


Đạo làm con - Bổn phận với gia đình - Xã hội


"Con ngoan cha mẹ vui lòng,

Con hư cha mẹ âm thầm rầu lo.

Con thiếu bổn phận làm trò,

Là con lỗi đạo mẹ cha ưu phiền".



Đạo làm con và Đức Hiếu Kính



- "Việc đạo đức là nền tảng tốt,

Hễ làm người có trí thì nên.

Kể chi Khôn, Dại, Sang, Hèn,

Tánh lành ai cũng vẹn tròn từ xưa.

Vì nhiễm xấu nên hư việc tốt,

Phải tĩnh tâm tìm biết đường ngay.

Công cha, nghĩa mẹ cao dầy,

Sanh lòng bất hiếu, hư hèn tấm thân.

Phải hiếu kính mẹ cha cho tốt,

Đạo làm con phải biết báo đền.

Hầu cha mẹ, thường nhớ không quên,

Dâng vật quý lại thêm chiều chuộng.

Dù nghèo thiếu, cháo rau cung phụng,

Còn hơn, trâu dê, chết, tế mời.

Sao bằng, lúc sống ngọt bùi,

kính dâng, cha mẹ cho tròn đạo con

Vì nắng gió nên thân đau yếu.

Thương mẹ cha lo liệu thuốc thang,

Lời ăn tiếng nói dịu dàng.

Những điều dạy phải lòng thường nghe vâng.


- Khi khuyên dạy, chớ nên trái cãi.

Điều lỗi lầm, tự hãy can ngăn,

Tâm lành không trái song thân.

Chánh tâm hiếu kính đền ân sanh thành,

Trọng cha mẹ chớ sanh lòng quấy.

Kính đồng bào giữ lấy cương thường,

Đạo chồng vợ, nghĩa tình son sắc,

Chữ thủy chung cho trọn cuộc đời.

Đừng giận dữ nói lời hà khắc.

Nghĩ sao cho ích quốc lợi dân,

Phận hiền là kẻ thứ dân,

Trọng kính pháp nước, giữ luân lý nhà!


-Vợ chồng ấy cũng là nghĩa đó, 

Nên thương yêu, tương kính như tân,

Sắc son, tình nghĩa trọn phần,

Đừng xưa yêu quá, mà nay ghét nhiều.



- Chẳng nên nghĩ khó nghèo, bận rộn,

Hoặc đem lòng, rẻ rúng xa khơi.

Ngẫm xem tác tạo cơ trời,

Chữ duyên sự ấy từ đời trước kia.


- Đừng vì nỗi say sưa đắm nguyệt,

Chớ giận hờn, hơn thiệt cùng nhau.

Dẫu cho muôn khổ, vạn sầu.....

Vợ hiền, giữ phận "thủy chung" một đời.


- Những thói tục xưa kia, xóa bỏ,

Lời khuyên răn, sớm tối tỏ tường.

Đừng lời cay đắng sái đường,

Anh em phải tương thân, tương ái.


- Giọt máu kia, một cũng như hai,

Tấm lòng trọng nghĩa mến tài, 

Đừng so hơn thiệt, ngắn, dài cùng nhau,

Yêu nhau chị em dâu thế đó.


- Điều gièm pha chớ có nghi phiền,

Thương nhau chị cũng như em,

Chị hòa em thuận cho yên cửa nhà,

Đó là việc của nhà gia giáo.


- Ai làm tròn phước báu muôn phần,

Thờ cha, kính mẹ luôn ghi nhớ,

Anh em, thường như thể tay chân,

Điều lầm lỗi, luôn cần nhẫn nhịn ,


- Hòa hiệp nhau, đoàn kết mới hay,

Riêng chung giàu có dường này,

Sao cho thương mến như ngày còn thơ,

Tình bè bạn từ xưa gặp gỡ.


- Lòng thủy chung đừng nỡ đổi dời,

Giúp nhau cho hợp lòng trời,

Can ta điều nọ, khuyên người điều kia,

Đừng mưu chước, gian phi xu phụ.


- Giữ chánh tâm, dứt bỏ điều xằng,

Những ai chính trực công bằng, 

Quyết không điều hại, mới rằng bạn hay,

Xa kẻ dữ khỏi lây điều ác.


- Gần người hay, học được điều lành,

Ngũ luân sáu đức hiểu rành(1),             (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)

Khuyên răn mọi nết, nhớ lòng đừng quên,

Tâm trong sạch làm nên sự nghiệp.


- Dối được người, không dối được trời,

Ở đời chẳng bạc với ai,

Lòng thời trung hậu, phước trời dài lâu,

Việc chưa đến chớ rầu bụng nghĩ.


- Điều đã qua đừng để bận lòng,

Bốn mùa hòa khí loan phòng,

Lửa tâm không động, ắt không cháy càn,

Kìa phú quý bần hàn là phận.


- Chớ cùng ai tức giận tranh giành,

  Gây bao nhiêu nỗi bất bình chẳng an,

Khi giận dỗi nên ôn tồn hòa nhã.


- Chuyện người kia chớ có vội vàng,

Đừng câu rủa chửi phủ phàng,

Những điều dâm loạn lại càng phải xa,

  Đừng khẩu Phật, tâm tà mà tội,


- Có hay chi việc giả dối đơn sai,

 Thuận người tài đức mới hay,


Việc ác chớ vội chê bai mất lòng,

Nhẫn là phước, giành khôn là dại,


- Đừng đa ngôn, đa quá không hay,

Lòng người mà đã chẳng ngay,

Kể sao cho xiết, xưa nay lỗi lầm!


- Điều trái ấy, chớ cho là phải,

Hễ làm người biết dại là khôn,

Ngọc kia năng sửa thì tròn,

Người hiền, đức lớn, không phiền lòng ai,

Những Đức ấy, tốt đời, đẹp đạo,

Tiếng danh thơm, gương sáng ở đời,

Làm lành hưởng phước an vui,

Công phu đạo đức xưa nay như vầy. 


Cần thơ, ngày 15 tháng 03 năm 2000 
 Hoà Thượng Thích Giác Sở





Hóa giải sự giận dữ


 
 
 
Ảnh hưởng của sự giận dữ có tính cách phá hoại rất rõ ràng. Thí dụ, khi một ý nghĩ căm hờn chắc chắn hoặc mạnh mẽ xuất hiện, ngay tức khắc, nó áp đảo con người hoàn toàn và hủy diệt sự an bình hiện thực của tâm thức. 
 
Khi một ý nghĩ căm ghét được nuôi dưỡng trong tâm trí, nó sẽ làm cho con người cảm thấy rất căng thẳng và bực bội, và nó gây ra triệu chứng mất ăn, mất ngủ, v…v….
 
Nếu sự tức giận xuất hiện nơi chúng ta, khi chúng ta bị tổn thương, khi chúng ta bị đối xử không công bằng bởi người nào đó mà chúng ta đặt kỳ vọng nơi họ.
 
Ngay trong giây phút đó, nếu ta xem xét kỹ lưỡng cách thức cơn giận xuất hiện, ta sẽ có một cảm giác nó xuất hiện như một vị bảo hộ, một người bạn tới để giúp ta trả thù cái người vừa làm ta tổn thương. 
 
Như vậy, cơn giận hoặc ý nghĩ của sự căm ghét, chỉ là một ảo giác của tâm thức điên đảo. Vì thế, việc trả thù không hề làm giảm đi hay phòng ngừa được sự việc đã xảy ra, cũng như không thay đổi được điều gì.
  
Ngược lại, cũng trong tình huống đó, một người thay vì hành xử một cách bao dung, lại phản ứng một cách tiêu cực như trả thù, thì không những họ chẳng được lợi ích nào ngay tức thời, mà còn tạo thêm thái độ và cảm giác tiêu cực, và đó là mầm mống xấu. 
 
Quan điểm phật giáo cho rằng người nào trả thù, người đó sẽ một mình nhận lãnh kết quả sự trả thù đó trong kiếp sống ở tương lai. Do đó không những sự trả thù không mang lại lợi ích nào trong hiện tại, mà nó còn di hại tới cuộc sống lâu dài của người đó sau nầy.
 
Tuy nhiên, nếu một người bị đối xử bất công và nếu như tình trạng đó không được quan tâm xử sự chính đáng, nó có thể mang lại những kết quả xấu cho kẻ đã tạo nghiệp ác. 
 
Trong trường hợp như vậy, chúng ta cần đến những phản ứng thích hợp, cần nhất là phản ứng trong tinh thần từ bi, không giận dữ hay sân hận. 
 
Một thế hệ đầy dẫy các ý nghĩ sân hận, đồng thời các cảm giác giận dữ mạnh mẽ cũng xuất hiện, không cần biết người đó cố gắng giữ tư thế đáng kính như thế nào, khuôn mặt họ vẫn rất xấu, rất khó chịu, mà người khác sẽ cảm nhận được, và dường như họ cảm nhận luôn được làn hơi nóng bốc ra từ thân thể của người kia. Thật ra không những chỉ con người mới có thể cảm nhận điều đó, kể cả gia súc và những thú vật khác cũng cảm nhận được, và sẽ tránh người nầy ngay tức khắc. (Theo Đạt Lai Lạc Ma)
 
Copyright © 2013 TÂM LINH | Powered by Blogger