Wednesday, September 10, 2014

Lý tưởng




Lý tưởng là cái tột đẹp mình tưởng tượng và theo đuổi. "Đời sống lý tưởng" làm cho hợp ý tưởng tượng của mình.

Sáu đức trong lý tưởng

"Trí, Tín, Nhân, Dũng, Nghiêm, Hòa"

Là tường thành kiên cố, tàu xe về cõi chơn phước. Định hướng vươn lên lý tưởng.

Trí 

Là sự thông hiểu trong đầu óc. Trí có: Trí óc. Trí thức, và Trí tuệ.

a. Trí thức: thuộc về hình nhi hạ học, cái có vật chất hữu hình.

b. Trí tuệ: thuộc về hình nhi thượng học, vô hình, siêu hình.

Trí thức và trí tuệ thuộc kho tàng văn hóa vĩ đại của thế giới, đã và đang hình dung, phát huy các giá trị bách khoa giúp nhân loại mưu tìm sự sống tốt hơn và vươn lên lý tưởng, sự kiện này được hoan nghênh

"Văn hóa là chìa khóa của mọi sự thành công".

Tín

Là tín thực, sự chân thật, lòng chân thành không dối trá ..... Tín có: một là người, hai là vật chất.

a. Tín về người: người chân thật, người tốt..... nếu có thêm tài, đức thì được tin cậy trọng dụng hơn....

b. Tín về vật chất, vật dụng: Là hàng hóa tốt, có chất lượng, có giá trị trên thị trường và được nhiều khách hàng chiếu cố...

Tóm lại: Đức tín là sự nghiệp và là điều rất quan trọng trong các quan hệ xã hội. Nói lên danh dự cũng như nghề nghiệp của con người.

Đức tín là một nhân tố hạnh phúc và thực sự "lý tưởng"

Nhân

Có mười điều:

1. Nhân: là người, người tốt, việc tốt. Nhân tánh, Thiên tánh, Thần tánh, Thánh tánh, Phật tánh..... Nhân tánh tốt là hoàn thành nghĩa vụ làm người có nhân cách.

2. Nhân: là nhân đạo, nhân từ, nhân ái, nhân đức, lòng nhân, thích giúp đỡ mọi người .....

3. Nhân đạo chủ nghĩa: Thuyết cho rằng đạo làm người là phải đặt quyền lợi con người lên trên tất cả.

4. Vạn năng sinh hóa:

(a) Thuyết cho rằng tạo hóa sinh ra con người và dành cho con người quyền tự do sống và quyền sống này được bảo đảm bởi trật tự xã hội.

(b) Tất cả mọi nhu cầu cho sự sống của con người đều do bàn tay của con người làm ra và do đó xã hội nhìn nhận ý nghĩa này và quyền hưởng phúc lợi, tức con người làm ra của cải để hưởng hạnh phúc.....

5. Nhân bản chủ nghĩa: cho rằng con người là căn bản, là mực thước của mọi vật, nghĩa là tất cả mọi kiến thức đều tùy thuộc bản tánh con người và những nhu cầu chính yếu của họ.

6. Nhân văn chủ nghĩa (triết): chủ nghĩa lấy văn minh loài người làm chính và tin tưởng rằng sự giải thoát con người là do con người tự tạo lấy .....

7. Nhân văn: Văn minh loài người, kiến thức, tư tưởng nhân loại, siêu việt.

8. Nhân cách: tư cách của một người tốt.

9. Nhân cách hóa: làm cho con người đẹp lên. Thí dụ: tư cách pháp nhân, là tư cách con người trước pháp luật và được thừa nhận tốt, không thiếu sót....

10. Đạo đức nhân loại: quan niệm rằng hiện nay loài người đang tùy thuộc địa phương và đường lối có khác, nhưng cùng hướng về chân trời thiện mỹ.

Tóm lại, Nhân là người, là nhân cách, đức độ, lịch sự, điều thiện, ấy là một trong những tác phong văn hóa phù hợp với đời sống xã hội, hoàn thành nghĩa vụ làm người và vươn lên lý tưởng "Thiện".

Dũng

Có 3 khái niệm:

a. Dũng là dũng cảm, oai dũng, sự can đảm, hăng hái, mạnh mẽ ... vì điều thiện, việc nghĩa và khi cần người dũng có thể quên mình vì chính nghĩa....

b. Dũng là sự nghiêm răn, tự thắng mình và khoan hồng tha thứ, nên nói dũng là việc khó mà làm được, dũng ấy sanh ra tài đức, "người mưu trí".

c. Dũng là sự vươn lên, thí dụ khi hữu sự, có sắc chiêu mộ hiền tài, người dũng được trọng dụng .... Dũng là danh từ đạo lý trong ba danh từ, tôn chỉ của đạo Phật là Bi, Trí, Dũng cũng là gương hạnh tốt và danh dự. "Dũng này không trái với trật tự xã hội hoặc bất nghiêm, là luật định".

Tóm lại: Dũng là phong cách, khí phách phi thường.

"Dũng là đạo người quân tử".

Nghiêm

Có 3 khái niệm:

a. Nghiêm là không sai chạy, giữ đúng lề lối.

b. Nghiêm trang, đoan trang, không hay cười đùa vẻ mặt nghiêm và tỏ ra có đức hạnh tốt, biết xử trí, xử sự, biết tự trọng và tôn trọng kiến thức khác.

"Không tham lợi bỏ nghĩa".

c. Nghiêm không phải là nghiêm khắc hoặc quá nghiêm, vì nghiêm khắc là khắc nghiệt và quá nghiêm đều dẫn đến sự khổ cho cả chủ và khách khi sử sự, tức là trái ngược với nghiêm túc, nghiêm minh, và công lý.

Có người bình thường thì vui tính nhưng khi làm việc thì nghiêm minh, "bản lĩnh"

"Nghiêm là chơn lý trung dung và đức huệ lớn"

Nghiêm là nghiêm nghị, nghiêm minh của cấp lãnh đạo chính quyền các cấp để làm bổn phận, thì hành sứ mệnh.....

Nghiêm, xưa: Nghiêm quân là đức của Vua.

Nghiêm quốc là đức của nước.

Nghiêm dân là đức của dân.

Nghiêm quân lệnh là đức của nhà binh,

Nghiêm pháp là đức của pháp luật.

Nghiêm từ là đức của cha mẹ.

Nghiêm sư là đức của thầy.
 
Tóm lại, Nghiêm là đạo lý quan trọng trong đời sống nhân loại, thiếu đạo lý này gọi là bất nghiêm và chưa ổn định.

Nghiêm sanh ra đức nghiêm, đức ấy là sự nghiệp "vươn lên lý tưởng".

Hòa

Có 3 khái niệm:

a. Hòa là hòa hợp, sự hiệp lại, hòa hợp các hóa chất thành một mô hình; hòa tức là thuận, không nghịch, không bất hòa; hòa là nhân tố xây dựng vui vẻ cửa nhà.

Thí dụ: "Chị em hòa thuận cho yên cửa nhà"

b. Tính chủ hòa: thái độ ôn hòa, không khí thuận hòa....

Hòa nhà thì nhà an vui

Hoà xóm làng thì xóm làng thịnh vượng

Hòa nước nhà thì quốc gia phú cường

Hòa thế giới thì nhân loại yên bình.

"Tâm hòa thì trí sáng, trí sáng thì tánh linh, tánh linh thì thanh lọc, thanh lọc thì siêu thoát".

c. Hòa bình, hòa hội, hòa giải, hòa đàm....: Hội nghị bàn về hòa bình để chấm dứt chiến tranh và xây dựng ....

- Hòa bình chủ nghĩa: thuyết cho rằng muốn hòa bình phải giải quyết những vụ xung đột bằng thương thuyết.....

- Quan niệm khác: giải quyết chiến tranh bằng kiến thức yêu chuộng hòa bình và xây dựng....

Tóm lại, Hòa là chơn lý sống và xây dựng tốt trong mọi lãnh vực xã hội.

Hòa sanh ra đức, đức ấy là sự nghiệp thiện là "Lý tưởng"

"Vui vẻ là liều thuốc bổ, Hòa là viên thuốc an thần".

Sáu Đức

1. Là nhân tố quyết định vươn lên "lý tưởng"

2. Ở thế gian đang mang ý nghĩa hướng thượng mà sáu đức là một trong những kiến thức phù hợp thời đại và tính triết lý này hướng thượng là sự thật.

3. Sáu đức vươn lên lý tưởng và sự thật này nói lên mãi ý nghĩa đạo đức và giá trị sống con người.

4. Hình nhi thượng (triết), thông cảm và thuận với nghĩa sống hướng thượng.

5. Sự thông cảm lẫn nhau trong các quan hệ xã hội bởi kiến thức hướng thượng.

6. Bất cứ người nào thuận các quan điểm trên cũng như làm việc phải tận tụy thì người ấy có phước huệ trang nghiêm.(Hoà thượng Thích Giác Sở)







Khuyến thiện




Khuyến thiện

Bài khuyến thiện này, Hòa thượng Thích Giác Sở viết tuy ngắn, nhưng xúc tích, và có mục đích xây dựng, trong khi đạo lý đang suy đồi, xuống dốc, ngài cũng muốn gióng lên một hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại hãy nên trao dồi bản thân để có thể tạo nên một xã hội tốt đẹp hơn với những công dân luôn biết giữ bổn phận của mình. 


Thí dụ:

- Đạo gia đình
- Đạo làm người trong xã hội

Những đạo đức trên sẽ tạo được "Thiện cảm" và nhân quả lành, sẽ được người người mến trọng, kính nể.... 
 
Những lời vàng ngọc của ngài được gói ghém trong những vần thơ trong sáng và dễ hiểu rất thích hợp với tất cả mọi người.


Hạnh từ thiện


"Mỗi việc thiện là mỗi hạnh phúc, tất cả việc thiện là hạnh phúc hoàn mỹ"


"Một miếng khi đói, hơn một gói khi no, đó là những suy nghĩ của người biết đạo đức, và biết chia sẻ".


"Có Tài mà giúp đời, Tài ấy khả kính, cũng như thế, có Đức mà đem cho người, Đức ấy càng lớn".

........................


Đạo làm con - Bổn phận với gia đình - Xã hội


"Con ngoan cha mẹ vui lòng,

Con hư cha mẹ âm thầm rầu lo.

Con thiếu bổn phận làm trò,

Là con lỗi đạo mẹ cha ưu phiền".



Đạo làm con và Đức Hiếu Kính



- "Việc đạo đức là nền tảng tốt,

Hễ làm người có trí thì nên.

Kể chi Khôn, Dại, Sang, Hèn,

Tánh lành ai cũng vẹn tròn từ xưa.

Vì nhiễm xấu nên hư việc tốt,

Phải tĩnh tâm tìm biết đường ngay.

Công cha, nghĩa mẹ cao dầy,

Sanh lòng bất hiếu, hư hèn tấm thân.

Phải hiếu kính mẹ cha cho tốt,

Đạo làm con phải biết báo đền.

Hầu cha mẹ, thường nhớ không quên,

Dâng vật quý lại thêm chiều chuộng.

Dù nghèo thiếu, cháo rau cung phụng,

Còn hơn, trâu dê, chết, tế mời.

Sao bằng, lúc sống ngọt bùi,

kính dâng, cha mẹ cho tròn đạo con

Vì nắng gió nên thân đau yếu.

Thương mẹ cha lo liệu thuốc thang,

Lời ăn tiếng nói dịu dàng.

Những điều dạy phải lòng thường nghe vâng.


- Khi khuyên dạy, chớ nên trái cãi.

Điều lỗi lầm, tự hãy can ngăn,

Tâm lành không trái song thân.

Chánh tâm hiếu kính đền ân sanh thành,

Trọng cha mẹ chớ sanh lòng quấy.

Kính đồng bào giữ lấy cương thường,

Đạo chồng vợ, nghĩa tình son sắc,

Chữ thủy chung cho trọn cuộc đời.

Đừng giận dữ nói lời hà khắc.

Nghĩ sao cho ích quốc lợi dân,

Phận hiền là kẻ thứ dân,

Trọng kính pháp nước, giữ luân lý nhà!


-Vợ chồng ấy cũng là nghĩa đó, 

Nên thương yêu, tương kính như tân,

Sắc son, tình nghĩa trọn phần,

Đừng xưa yêu quá, mà nay ghét nhiều.



- Chẳng nên nghĩ khó nghèo, bận rộn,

Hoặc đem lòng, rẻ rúng xa khơi.

Ngẫm xem tác tạo cơ trời,

Chữ duyên sự ấy từ đời trước kia.


- Đừng vì nỗi say sưa đắm nguyệt,

Chớ giận hờn, hơn thiệt cùng nhau.

Dẫu cho muôn khổ, vạn sầu.....

Vợ hiền, giữ phận "thủy chung" một đời.


- Những thói tục xưa kia, xóa bỏ,

Lời khuyên răn, sớm tối tỏ tường.

Đừng lời cay đắng sái đường,

Anh em phải tương thân, tương ái.


- Giọt máu kia, một cũng như hai,

Tấm lòng trọng nghĩa mến tài, 

Đừng so hơn thiệt, ngắn, dài cùng nhau,

Yêu nhau chị em dâu thế đó.


- Điều gièm pha chớ có nghi phiền,

Thương nhau chị cũng như em,

Chị hòa em thuận cho yên cửa nhà,

Đó là việc của nhà gia giáo.


- Ai làm tròn phước báu muôn phần,

Thờ cha, kính mẹ luôn ghi nhớ,

Anh em, thường như thể tay chân,

Điều lầm lỗi, luôn cần nhẫn nhịn ,


- Hòa hiệp nhau, đoàn kết mới hay,

Riêng chung giàu có dường này,

Sao cho thương mến như ngày còn thơ,

Tình bè bạn từ xưa gặp gỡ.


- Lòng thủy chung đừng nỡ đổi dời,

Giúp nhau cho hợp lòng trời,

Can ta điều nọ, khuyên người điều kia,

Đừng mưu chước, gian phi xu phụ.


- Giữ chánh tâm, dứt bỏ điều xằng,

Những ai chính trực công bằng, 

Quyết không điều hại, mới rằng bạn hay,

Xa kẻ dữ khỏi lây điều ác.


- Gần người hay, học được điều lành,

Ngũ luân sáu đức hiểu rành(1),             (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín)

Khuyên răn mọi nết, nhớ lòng đừng quên,

Tâm trong sạch làm nên sự nghiệp.


- Dối được người, không dối được trời,

Ở đời chẳng bạc với ai,

Lòng thời trung hậu, phước trời dài lâu,

Việc chưa đến chớ rầu bụng nghĩ.


- Điều đã qua đừng để bận lòng,

Bốn mùa hòa khí loan phòng,

Lửa tâm không động, ắt không cháy càn,

Kìa phú quý bần hàn là phận.


- Chớ cùng ai tức giận tranh giành,

  Gây bao nhiêu nỗi bất bình chẳng an,

Khi giận dỗi nên ôn tồn hòa nhã.


- Chuyện người kia chớ có vội vàng,

Đừng câu rủa chửi phủ phàng,

Những điều dâm loạn lại càng phải xa,

  Đừng khẩu Phật, tâm tà mà tội,


- Có hay chi việc giả dối đơn sai,

 Thuận người tài đức mới hay,


Việc ác chớ vội chê bai mất lòng,

Nhẫn là phước, giành khôn là dại,


- Đừng đa ngôn, đa quá không hay,

Lòng người mà đã chẳng ngay,

Kể sao cho xiết, xưa nay lỗi lầm!


- Điều trái ấy, chớ cho là phải,

Hễ làm người biết dại là khôn,

Ngọc kia năng sửa thì tròn,

Người hiền, đức lớn, không phiền lòng ai,

Những Đức ấy, tốt đời, đẹp đạo,

Tiếng danh thơm, gương sáng ở đời,

Làm lành hưởng phước an vui,

Công phu đạo đức xưa nay như vầy. 


Cần thơ, ngày 15 tháng 03 năm 2000 
 Hoà Thượng Thích Giác Sở





Hóa giải sự giận dữ


 
 
 
Ảnh hưởng của sự giận dữ có tính cách phá hoại rất rõ ràng. Thí dụ, khi một ý nghĩ căm hờn chắc chắn hoặc mạnh mẽ xuất hiện, ngay tức khắc, nó áp đảo con người hoàn toàn và hủy diệt sự an bình hiện thực của tâm thức. 
 
Khi một ý nghĩ căm ghét được nuôi dưỡng trong tâm trí, nó sẽ làm cho con người cảm thấy rất căng thẳng và bực bội, và nó gây ra triệu chứng mất ăn, mất ngủ, v…v….
 
Nếu sự tức giận xuất hiện nơi chúng ta, khi chúng ta bị tổn thương, khi chúng ta bị đối xử không công bằng bởi người nào đó mà chúng ta đặt kỳ vọng nơi họ.
 
Ngay trong giây phút đó, nếu ta xem xét kỹ lưỡng cách thức cơn giận xuất hiện, ta sẽ có một cảm giác nó xuất hiện như một vị bảo hộ, một người bạn tới để giúp ta trả thù cái người vừa làm ta tổn thương. 
 
Như vậy, cơn giận hoặc ý nghĩ của sự căm ghét, chỉ là một ảo giác của tâm thức điên đảo. Vì thế, việc trả thù không hề làm giảm đi hay phòng ngừa được sự việc đã xảy ra, cũng như không thay đổi được điều gì.
  
Ngược lại, cũng trong tình huống đó, một người thay vì hành xử một cách bao dung, lại phản ứng một cách tiêu cực như trả thù, thì không những họ chẳng được lợi ích nào ngay tức thời, mà còn tạo thêm thái độ và cảm giác tiêu cực, và đó là mầm mống xấu. 
 
Quan điểm phật giáo cho rằng người nào trả thù, người đó sẽ một mình nhận lãnh kết quả sự trả thù đó trong kiếp sống ở tương lai. Do đó không những sự trả thù không mang lại lợi ích nào trong hiện tại, mà nó còn di hại tới cuộc sống lâu dài của người đó sau nầy.
 
Tuy nhiên, nếu một người bị đối xử bất công và nếu như tình trạng đó không được quan tâm xử sự chính đáng, nó có thể mang lại những kết quả xấu cho kẻ đã tạo nghiệp ác. 
 
Trong trường hợp như vậy, chúng ta cần đến những phản ứng thích hợp, cần nhất là phản ứng trong tinh thần từ bi, không giận dữ hay sân hận. 
 
Một thế hệ đầy dẫy các ý nghĩ sân hận, đồng thời các cảm giác giận dữ mạnh mẽ cũng xuất hiện, không cần biết người đó cố gắng giữ tư thế đáng kính như thế nào, khuôn mặt họ vẫn rất xấu, rất khó chịu, mà người khác sẽ cảm nhận được, và dường như họ cảm nhận luôn được làn hơi nóng bốc ra từ thân thể của người kia. Thật ra không những chỉ con người mới có thể cảm nhận điều đó, kể cả gia súc và những thú vật khác cũng cảm nhận được, và sẽ tránh người nầy ngay tức khắc. (Theo Đạt Lai Lạc Ma)

Sunday, June 15, 2014

Lược sử Hòa thượng Thích Giác Sở




I. Thân thế

Hòa thượng pháp danh Thích Giác Sở, thế danh Nguyễn Đình Thi, sinh năm 1923 tại làng Trung Hòa, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

Ngài là con của cụ ông Nguyễn Mạnh An và bà Lê Thị Ngãi.

II. Thời gian xuất gia tu học

1. Xuất gia tu học

Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong một gia đình thâm Nho Phật Giáo đạo đức và kính tin Tam Bảo, nên khi vào Nam gặp thiện duyên. Năm 1959 Ngài đã xuất gia với Hòa thượng Thích Giác Trụ tại Tịnh xá Ngọc Chánh (nay thuộc Quận Bình Thạnh, TP. HCM). Bởi vì giác ngộ.

Khất thực độ đời tăng trí tuệ
Hạ mình vì đạo bậc siêu nhân
Thân tâm xuất gia là giải thoát
Chí nguyện độ đời ấy Phật độ.
(Khất Sĩ Đạo)

2. Hành đạo

Mang chí nguyện tu học và hành đạo báo đền chư Phật và Thầy tổ, Ngài đã y chỉ vào Hòa thượng Thích Giác Huệ vân du khắp chốn.


Bát cơm xin ngàn nhà
Chân đi muôn dặm xa
Người cầu thuyết sanh tử
Mở rộng đường khất hóa

Với chí nguyện đạo thoát giáo hóa chúng sanh. Sau một thời gian tìm hiểu học đạo, Ngài được thọ Giới pháp, y bát Khất Sĩ làm Tỳ kheo nối gót chư Sư tu học góp phần phát triển Giáo Hội.

"Y bát trì hành huệ tâm khai
Khất thực hòa duyên chí độ đời
Noi gương Phất tổ ngàn đời trước
Nối truyền Di Lạc ở mai sau"
(Khất Sĩ Đạo)



Ngài được bổ nhiệm là trụ trì ở các Tịnh xá Ngọc Long, thuộc tỉnh Long An, Vĩnh Long, Sa Đéc, Trảng Bom, Long Xuyên, Tịnh xá Ngọc Minh Cần Thơ, Bạc Liêu, Gò Công, Chợ Nước v...v....

 

Năm 1965, một hôm ngồi độ cơm dưới gốc cây Bồ Đề, ông bà chủ đất tên là Sáu Chức, đã cung thỉnh Ngài ở lại hoằng pháp nơi mảnh đất của ông bà với rất nhiều cây Bồ Đề đã tự mọc một cách rất kỳ lạ, và Tịnh Xá Ngọc Hòa được thành lập, Ngoài ra Hòa thượng còn xây dựng ở đây Tịnh xá Ngọc Bình (nay đã xác nhập vào Tịnh xá Ngọc Hòa) xây dựng Tịnh xá Ngọc Long, Vị Thủy, (Thượng Tọa Thích Giác Thuần trụ trì) Bình Thủy có Tịnh xá Ngọc Đạo, Tịnh xá Ngọc Đức.


 


III. Những công đức

1.Đối với giáo hội Tăng, Ni

Với nhiệm vụ "Tác như lai sứ, hành như lai sự", Hòa thượng đã hóa độ rất nhiều người, điển hình như: TT Thích Giác Thuần, Phó Ban Trị sự PG tỉnh Cần Thơ, Sư Giác Hóa, Sư cô Chơn Liên, Sư cô Mỹ Liên, Chánh Liên, Phúc Liên, Minh Liên, Như Liên, và Sư cô Sơn Liên.  v.....v.....

Chư Tăng, Ni nào cần giúp đỡ, Ngài đều sẵn sàng và tích cực. Lòng từ bi được thể hiện rõ nét, khi tiếp xúc với Ngài, các hàng Phật tử cảm thấy rất an tâm với những lời dạy, hướng dẫn tu tập theo Giáo lý Phật Đà, với tấm lòng bao dung, hoan hỷ, nhẫn nhục, khiêm tốn, vị tha.......


 


2. Với xã hội

Ngài đã thực hiện câu "Tốt đời, đẹp đạo"


 

Ngoài ra, Ngài còn đóng góp rất nhiều tài vật cho địa phương, cho đồng bào, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.

Do đó Ngài nhận được:

Huy chương "Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam" do Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Cần Thơ tặng.

Huy chương "Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam" do Trung ương Hội Chữ Thập Đỏ Việt Nam tặng.

10 bằng khen và 40 giấy khen của chính phủ Việt Nam và Giáo Hội PG ban tặng.

2 Giáo chỉ tấn phong Thượng Tọa, Hòa Thượng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Thật đúng với câu thơ

"Nguyện xin hướng trọn đời mình
Cho nguồn đạo pháp, cho tình quê hương"


 


3. Tác phẩm

Hòa thượng luôn tinh tấn tu học, tham cứu Giáo lý,và Chơn lý của Đức tôn sư Minh Đăng Quang, luôn tìm tòi học hỏi. Ngài có thiên phú về văn thơ nên đã cống hiến cho đời rất nhiều tác phẩm và đặc biệt là ngài không hề giữ bản quyền.

- Lễ Giáo Phẩm Bồ Tát Con đường Siêu Thoát.
- Khất Sĩ "Đạo"
- Hiếu Nghĩa
- Nhẫn Nhục và Nhân Quả
- Cây Bút Thần
- Bức Cơ Huyền Thơ
- Tham, Sân, Si và Sám Hối
- Sinh Lý Sa Lạc Đạo và Thái Minh Tư Tưởng
- Cẩm Nang Khất Sĩ
- Trái Tim Vàng
- Minh Tâm Thư
- Thông Điệp Chánh Giác
- Tiếng Còi Hú Trong Đêm Vắng
- Kinh Nhân Quả, Kinh Vô Thường
- Cái Trí
Riêng 2001 xuất bản cuốn Khuyến Thiện và Lý Tưởng.

Cần Thơ, ngày 28, tháng 09, năm 2002

Nay Kính

Thích Giác Thuần, Thích Huệ Giác, Thích Giác Điệp




Tuesday, April 8, 2014

Ăn chay và tình cảm trong gia đình


 


Chuyện Cấm Cười - Theo Thư Viện Hoa Sen 

Hỏi:

Chúng tôi là một đại gia đình gồm cha mẹ và năm anh chị em, hai trai, ba gái. Trong suốt cuộc đời tôi, hình ảnh mẹ tôi là trung tâm của gia đình. Từ khi còn ở Việt Nam, mẹ tôi là một bà nội trợ giỏi, với đồng lương công chức eo hẹp của ba tôi, mẹ tôi chi tiêu tằn tiện, may lấy quần áo cho chúng tôi, nấu những món ăn cho gia đình, dù không phải sơn hào hải vị, nhưng rất ngon. Tôi vẫn còn nhớ món cá nục trong những cái rổ nan, mẹ tôi chiên lên, rưới nước mắm, rắc hạt tiêu rồi hạ lửa xuống chỉ còn riu riu, mùi cá xém vàng nâu quyện với nước mắm cô đặc lại, bốc lên thơm ngào ngạt.

Khi ba tôi được đi theo diện HO, chúng tôi qua đến đây cũng còn nghèo lắm, mẹ tôi vẫn làm những món ăn rẻ tiền như khi còn ở quê nhà, đôi khi sang hơn một chút như có thêm thịt gà, thịt heo, vân vân… Còn nhớ những chiều đi học về, bóng dáng mẹ lui cui trong bếp, tay đũa tay thìa, mẹ nêm nếm những món gà kho gừng, cánh gà xào chua ngọt, mùi thơm hấp dẫn, tôi thường lấy cơm nóng bỏ vào chảo để vét lại cái chất nước sốt dẻo quánh, thơm và ngọt lựng trong cổ. Ðôi khi, mẹ tôi cũng chiên cá nục với nước mắm và hạt tiêu như khi xưa, mẹ bảo:” Món này rẻ lắm”, chúng tôi lại thấy ngon quá, chẳng đòi mẹ món ăn đắt tiền. Còn nhớ hôm anh tôi ra trường, mẹ tính cho cả nhà ăn món gà El Pollo Loco, nhưng rồi mẹ lại mua thịt gà về quay với bơ, mẹ bảo nhà làm thế này rẻ hơn nhiều, chúng tôi thì thấy ngon quá rồi, chẳng cần đòi hỏi gì thêm.

Ngày tháng êm ả trôi mau trong cuộc sống thanh bạch mà vui. Rồi chúng tôi ra trường, có gia đình, con cái. Mỗi cuối tuần, chúng tôi vẫn về ăn cơm với ba mẹ, rồi gửi con cho mẹ tôi trông giùm để đi coi chiếu bóng hay thăm bạn hữu. Mỗi tuần mẹ tôi lại nấu một món đặc biệt, như phở Bắc, hủ tiếu Nam Vang, bún bò Huế, mì Quảng, bánh xèo, bánh tôm, chả giò, vân vân, món nào của mẹ nấu cũng đều rất ngon. Dù nay thì chúng tôi dư tiền để ra tiệm ăn những món mà ngày trước coi là món ăn sang, nhưng chúng tôi thấy món mẹ nấu ngon hơn, thích ăn ở nhà ba mẹ hơn.

Từ khi chúng tôi đi làm, có gia đình, thì đời sống của ba mẹ tôi cũng khá hơn. Ngoài tiền trợ cấp của chính phủ, chúng tôi cũng biếu thêm chút đỉnh để ba mẹ đi chơi, hoặc có tiền chiêu đãi bạn bè, linh tinh. Mẹ tôi thì đi chùa, đi thăm bè bạn. Và rồi vấn đề bắt đầu nẩy sinh từ lúc này.

Sau một thời gian đi chùa, mẹ tôi bắt chước các bà bạn, học làm đồ chay, rồi đổi qua ăn chay. Lúc đầu thì còn ăn một tháng có mấy ngày, sau ăn chay trường luôn, chấm dứt ăn thịt.

Hồi mới ăn chay, mẹ tôi vẫn còn nấu các món ăn mặn như thường lệ. Sau một thời gian thì bà chỉ nấu món chay và mua những món mặn nấu sẵn ở ngoài tiệm đem về để mọi người ăn dặm chung trong mâm. Dần dần, những bữa ăn món đặc biệt cuối tuần như phở, bún, vân vân, cũng biến mất. Mẹ ít vào bếp, thường yêu cầu chúng tôi mua đồ ăn nấu sẵn, hoặc cùng nhau ra tiệm ăn. Thành ra sự đi chùa, tu hành theo đạo Phật thì từ bi đâu không thấy, chỉ thấy gia đình tôi mất những bữa ăn ngon lành đầm ấm khi xưa.

Ba tôi rất bực mình vì khẩu vị của ba đã quen với cách nấu ăn, nêm nếm của mẹ. Cơm ngoài tiệm ba thường chê mặn, chê bột ngọt, chê dầu mỡ, có khi chỉ nếm qua rồi bỏ ăn, đứng lên.

Cả ba tôi và chúng tôi đều oán đạo Phật và sự ăn chay, đã làm mất những bữa cơm gia đình ấm cúng của chúng tôi, đã làm mất niềm vui mà đã bao lâu nay mẹ chúng tôi đã đem lại cho chúng tôi.

Xin quý vị giúp ý kiến cho tôi, nên khuyên mẹ tôi ăn thịt trở lại, hay là nên khuyên ba tôi chấp nhận sự ăn trường trai và không nấu thịt cá của mẹ.

Trân trọng cảm ơn quý vị,
Ngọc Hạnh
Đáp:

Ðọc thư của bạn Ngọc Hạnh với những chi tiết nồng đượm tình gia đình, chúng tôi rất ngậm ngùi. Cũng như bạn Ngọc Hạnh, chúng tôi cũng cảm nhận được sự mất mát của gia đình bạn. Cảm nhận sự mất mát thì giống nhau, nhưng là những người đứng ngoài, nên chúng tôi có thể thấy thêm vài khía cạnh khác của vấn đề, xin trình bày ra cùng quý thính giả và bạn Ngọc Hạnh, như sau:

- Trước nhất, một điều rất rõ là gia đình bạn Ngọc Hạnh đã đặt tất cả niềm vui vào một trung tâm điểm, trung tâm điểm này "không phải là bà mẹ” nhưng là “khả năng nấu ăn ngon của bà mẹ”. Bởi vì bà mẹ vẫn còn sống đó, chỉ ngừng nấu các món mà gia đình thích thôi, là tất cả tình cảm mà trước kia biểu hiện ra trong việc nấu ăn, nay dĩ nhiên là vẫn còn đó, đã bị chồng con xóa hết rồi. Bản thân bà cũng vẫn còn đó, nhưng tình yêu của gia đình đối với bà thì dường như đã bị sứt mẻ. Tâm lý đó của mọi người trong gia đình có thể đã đôi khi biểu lộ ra, dù không quá lộ liễu, nhưng cũng đủ khiến cho bà mẹ suy nghĩ về “thân phận công cụ nấu bếp” của mình trong lòng chồng con chăng?

Trong cuộc sống vô thường, mọi sự đổi thay từng giây, từng phút, không ai biết lúc nào mình sẽ thở ra mà không còn hít vào này, sự đặt tất cả niềm hạnh phúc của gia đình vào tài nấu ăn của một người là sai lầm. Có thể bất thình lình bà mẹ bị tật bệnh gì đó, không còn nấu nướng được nữa, hoặc một ngày nào đó, tuổi già sức yếu, bà mẹ không thể gánh vác được những kỳ vọng mà chồng con đặt vào bàn tay làm bếp của mình, thì tất cả niềm vui của gia đình cũng sụp đổ hay sao? Còn phải nhớ đến rằng cái chết có thể tới với bất cứ ai vào bất cứ lúc nào, cho nên mỗi người phải tự mình tìm được sự an lạc từ nội tâm mình, không thể trông cậy vào ai khác, nhất là trông vào tài nấu bếp của một bà mẹ.

Nếu gia đình bạn Ngọc Hạnh để ý tới nội tâm của bà mẹ, sẽ có thể nhìn ra thêm khía cạnh khác, qua sự đổi thay của bà. Có thể là do đi chùa, tâm hồn bà phong phú ra, suy tư sâu sắc hơn, bà nghĩ tới được những vấn đề mà trước kia bà chưa từng nghĩ tới, cho nên hành xử khác trước.

Chúng tôi được biết có những gia đình đã tưởng tượng sai về sự đi lễ của bà mẹ, coi như là “ham vui”, hoặc là “già rồi trở thành mê tín”, hoặc “đến chùa gặp bè bạn để khoe của, khoe con”, mà thường là không tìm hiểu coi sinh hoạt ở chùa của mẹ như thế nào, không nhìn vào đời sống nội tâm của mẹ, đã biến chuyển ra sao.

Thực tế, do đi chùa, Phật tử được tiếp cận với giáo pháp nhà Phật, đôi khi do các vị sư giảng, nhưng phần lớn là do bạn đạo trao truyền cho nhau những câu chuyện, những băng giảng, những sách báo có những bài giáo lý. Từ những nguồn tài liệu này, một số vị đem về nhà, nhưng trước sự coi thường của chồng con đối với đạo, các vị ấy lặng lẽ đọc, lặng lẽ nghe băng, nhờ vậy, tâm hồn có sự chuyển hóa, hiểu được những phần cốt tủy của nhà Phật, về sự bớt làm điều xấu ác, tăng làm điều tốt lành và tụng kinh niệm Phật để thanh tịnh hóa tâm ý.

Trong những bài giảng, rất nhiều đề tài được đặt ra. Vì đạo Phật xây dựng trên hai cột trụ chính là Từ Bi và Trí Tuệ, cho nên đề tài Từ Bi thường được nói tới nhiều nhất. Cụ thể như trong một dịp gặp gỡ các tâm lý gia Hoa Kỳ, đức Ðạt Lai Lạt Ma cũng thảo luận với họ về đề tài Từ Bi, được trình bày trong cuốn “Worlds in Harmony, Dialogues on Compassionate Action”. Chúng tôi xin trích dịch mẩu đối thoại giữa Ngài và tiến sĩ Joanna Macy, một nhà bảo vệ môi sinh, sáng lập viên của Nuclear Guardianship Project, như sau:
…”…
Bà Joanna Macy hỏi:

- Thưa Ngài, tôi xin hỏi Ngài về trường hợp khác, trong đó những con vật rất đau đớn, đó là tại các trại chăn nuôi. Ðể có thể thay đổi lề lối làm việc ngõ hầu giảm thiểu sự đau đớn cho những sinh vật này, chúng ta cần phải nhìn tận mắt nỗi đau đớn của chúng. Nhưng đối với phần lớn chúng ta thì dường như sự nhìn vào nỗi đau đớn đó là điều quá sức chịu đựng nổi, cho nên chúng ta muốn nhìn đi phía khác để lảng tránh sự thực. Ngài mới giảng rằng phải thực tập hành động không lảng tránh mà nhìn sâu vào nỗi đau để không còn sợ nó nữa. Vậy nếu có thể, xin Ngài giảng rõ hơn, nhất là trong tinh thần liên đới cảm thông với các loài sinh vật đàn em đang bị hành hạ này chăng?

Ðức Ðạt Lai Lạt Ma đáp:

- Hàng ngàn, hàng triệu, hàng tỷ con vật bị giết để làm đồ ăn cho loài người. Ðiều đó thật là đáng buồn! Loài người chúng ta có thể không cần phải ăn thịt mà vẫn sống, nhất là trong thế giới tân tiến ngày nay. Chúng ta có quá nhiều thực phẩm bằng rau đậu và nhiều loại đồ ăn khác, cho nên chúng ta có khả năng và bổn phận cứu sống hàng nhiều tỷ sinh mạng. Tôi đã thấy có nhiều cá nhân và nhiều nhóm người tích cực yểm trợ các hoạt động bảo vệ quyền sống của loài vật, những người này đều ăn chay trường. Thật là tuyệt !

Có những sự giết chóc thật là phí phạm. Thí dụ săn bắn và câu cá, coi như là trò thể thao, đúng là vô nghĩa lý. Nếu giết vì lý do khác, thí dụ đánh cá để làm thực phẩm, thì còn có thể hiểu được hơn. Nhưng có lẽ điều đáng buồn nhất là tại các trại chăn nuôi. Những con vật đáng thương sống ở đó thật là đau khổ. Bản thân tôi đã từng tới thăm một trại nuôi gà tại Nhật, nơi người ta nhốt hai trăm ngàn con gà mái suốt hai năm trường, chỉ cốt để cho chúng đẻ trứng. Chúng là những kẻ tù đầy trong hai năm ròng rã đó. Rồi sau hai năm, khi không còn khả năng sinh sản, thì chúng bị bán đi để giết lấy thịt. Thật là kinh hoàng, đáng buồn quá! Chúng ta phải hỗ trợ những người có lòng muốn giảm thiểu cung cách đối xử bất công này.

Thật là tai hại nếu chúng ta không quan tâm tới nỗi đau đớn của bất cứ chúng sinh nào. Ngay trong chiến tranh, chúng ta cần nhận thức được nỗi đau đớn của đối phương và sự áy náy trong lòng mình vì đã gây đau thương cho họ thì tốt hơn…”…


Ðó là những lời khuyên của một tu sĩ Phật giáo về sự phát triển lòng từ bi, mà do tiếp cận với đạo, người Phật tử đã nhận thức được.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin minh xác rằng ăn chay trường không phải là điều bắt buộc của người Phật tử. Ngay trong thời đức Phật, Ngài và chư đệ tử cũng không ăn chay trường, mà dùng những thức ăn do thí chủ cúng dường, dù là có thịt. Miễn là người ăn không trông thấy con vật bị giết, không nghe thấy tiếng nó kêu khi bị giết, và không nghi rằng nó bị giết với mục tiêu cho mình ăn, như thế, những thịt này được gọi là tịnh nhục. Tục lệ đó còn được chư tăng hệ phái Nguyên Thủy duy trì cho tới ngày nay.

Ðối với hệ phái Bắc Tông thì chỉ các tu sĩ mới ăn chay trường, còn cư sĩ tại gia thọ trì Ngũ Giới, thì Giới Sát chỉ cấm giết, chứ không cấm ăn thịt. Tuy nhiên, nhà Phật cũng khuyến khích Phật tử giảm bớt ăn thịt để cho súc vật đỡ bị giết. Vì thế mới có chế độ ăn chay kỳ, thí dụ mỗi tháng ăn chay bốn ngày, gọi là tứ trai, ăn chay sáu ngày, gọi là lục trai, ăn chay mười ngày, gọi là thập trai, ăn chay trọn một tháng gọi là nguyệt trai, vân vân. Tóm lại, đa số Phật tử không ăn chay trường.

Nhưng hiện nay riêng trong nước Mỹ, theo thống kê của hội bảo vệ súc vật, có mười hai triệu người ăn chay trường. Phần đông những người này không phải là Phật tử, họ ăn chay vì lý do sức khỏe, hoặc vì lòng trắc ẩn, thương xót loài vật, không muốn chúng bị đau đớn suốt cuộc đời cho tới lúc chết, chỉ vì lý do mình muốn ăn thịt. Chúng tôi xin trích dịch ý kiến của tác giả David A. Gabbe, viết trong cuốn “Why Do Vegetarians Eat Like That?” như sau:

…”… Thông thường, khi những con bò, bê, heo được chở tới lò sát sinh thì chúng đã phải đứng liên tục, kề vai nhau trên suốt đoạn đường dài dằng dặc. Chuyến đi khiến cho chúng bối rối, kiệt sức, và trong nhiều trường hợp, quá ốm yếu. Ít nhất là suốt một ngày rồi, chúng không được ăn, vì về phương diện kinh tế thì chẳng còn có lợi lộc gì khi cho những con vật ăn bữa cuối cùng, cái bữa mà chúng chẳng còn kịp tiêu hóa khiến cho đồ ăn biến thành thịt trước khi bị giết!

Và trong khi những nhân viên lò sát sinh, có thể vốn không phải là những kẻ ác độc bệnh hoạn từ bản chất, nhưng áp lực của công việc ghê gớm đã khiến cho nhiều người trong số họ trở thành nhẫn tâm đối với những con vật sắp lên đoạn đầu đài. Kết quả là họ tuôn ra hàng tràng la hét giận dữ, và tống những cái đạp, những cái quất lên những con vật bối rối, kinh hoàng. Tụ tập hàng trăm hoặc hàng ngàn, những con vật khiếp đảm chen chúc nhau đứng phía ngoài lò sát sinh, chờ tới phiên mình bước vào cõi chết.

Vẳng nghe tiếng kêu hấp hối thống thiết từ những con vật đi trước vọng ra, bầy gia súc tê dại với hình ảnh của chết chóc. Bây giờ thì chỉ một nhát đập mạnh và một cú điện giật là đủ khiến cho con vật đành phải líu ríu bước vào phòng tàn sát.

Trái với điều có thể quý vị tưởng, không làm gì có cách giết nhân đạo theo chỉ thị! Nhân viên lò sát sinh có thể chọn bất cứ cách giết nào — thường là cách rẻ tiền nhất –, bất kể là man rợ hoặc tàn ác. Trong nhiều lò sát sinh, những con vật trong cơn kinh hoàng được giáng cho một đòn bất tỉnh bằng một nhát vào đầu — thường là một thanh sắt bổ xuống sọ –, hoặc bằng một luồng điện giật, hoặc bất cứ cách nào khác, trước khi chúng bị cùm chặt, rút lên cao và bị đâm liên tục vào ngực, cổ, để làm đứt những động mạch chính. Máu phun ra từ nhiều vết thương khiến cho con vật chết lẹ vì cạn kiệt….”…

Trên đây chỉ là trích đoạn ngắn ngủi của bản trường ca bi thảm mà những con vật tội nghiệp phải chịu đựng suốt một cuộc đời. Lão Tử đã nói “Ta khổ vì ta có cái thân”. Chỉ vì có cái thân làm loài vật, mà những con vật đáng thương phải chịu một cuộc đời đầy đọa, đau đớn từ lúc sinh ra cho tới lúc chết.

Nhưng còn những con vật không bị tù tội, được rong chơi bơi lội như loài cá thì sao? Ca sĩ Cao Thái có bài thơ “Con Cá”, như sau:

Tôi là con cá dưới sông
Có cha, có mẹ, có chồng có con
Trông con trông mỏi trông mòn
Trông khi họp mặt coi còn đủ không
Ngày ngày dong ruổi chạy rong
Kiếm ăn đây đó đỡ lòng mới thôi
Bữa kia nghe tiếng con tôi
”Mẹ ơi, con đã mắc mồi rồi me”
Lạy Trời lạy Phật chở che
Cho cha cho mẹ cho bè con thơ
Thành người tôi sẽ ước mơ
Kiếp sau sẽ chẳng bao giờ đi câu.

Biết đâu lũ cá chẳng vừa bơi vừa nguyện ước:

- “Xin cho chúng tôi đừng gặp loài người” ?
Trích Thư viện Hoa Sen

Monday, March 17, 2014

66 câu học Phật làm chấn động thiền ngữ thế giới

66 câu học Phật làm chấn động thiền ngữ thế giới

Friday, March 7, 2014

Khi bạn nhìn mọi thứ bằng một đôi mắt mới



Chuyện Cấm Cười - Theo Đinh Hữu/Truyện ngắn hay.net


Con tàu bắt đầu chuyển động, chật kín bởi đủ mọi loại người : từ những công nhân viên chức đến các cô cậu sinh viên trẻ. Ngồi cạnh cửa sổ là một ông lão cùng người con trai khoảng ba mươi tuổi. 

Gương mặt anh tràn ngập bởi niềm ham thích khó tả: Anh thật sự bị kích động bởi cảnh sắc bên ngoài.

“ Bố ơi, nhìn này, những cái cây này như đang chuyển động, thật là đẹp quá!!! “

Lối cư xử kiểu này của người con trai ba mươi tuổi khiến mọi người thấy thật kỳ quặc. Người ta bắt đầu rì rầm nho nhỏ.

“Người kia trông như bị loạn trí…” Một người đàn ông thì thào với vợ của mình.


Đột nhiên trời đổ cơn mưa, từng giọt từng giọt lặng lẽ rơi xuống đầu các hành khách qua khung cửa mở rộng. Người con trai ba mươi tuổi đầy hạnh phúc :

“Cha ơi, đẹp quá… Mưa đẹp quá…”

Một người phụ nữ phát cáu. Cơn mưa đang làm hỏng chiếc áo mới của cô.

“Ông có thấy trời đang mưa không? Nếu con trai ông có vấn đề thì nên đưa đi điều trị thần kinh chứ không phải ở đây để làm phiền người khác nơi công cộng”

Người con trai giật mình quay lại, đôi mắt nãy vốn vui tươi chợt như phủ một mảng sương mờ mịt.


Ông bố ngượng ngùng đôi chút rồi trả lời bằng giọng trầm trầm :

“Chúng tôi đang trên đường từ bệnh viện trở về. Con trai tôi vừa ra viện sáng nay. Nó bị mù bẩm sinh và mới được thay giác mạc. Cơn mưa…và mọi thứ đều quá mới mẻ với nó. Xin mọi người thứ lỗi.”

Những thứ ta thấy hay cảm nhận đều chỉ bắt nguồn từ quan điểm bản thân cho đến khi ta biết sự thật. Giống như một loài hoa, có thể là loa kèn, thược dược, hướng dương, v..v.. , dù ta có biết tên cũng như màu sắc, mùi vị,…, ta cũng chỉ “biết” nó qua chính cảm nhận chủ quan.


Khi bạn nhìn mọi thứ bằng một đôi mắt mới

Một cái tên hay vẻ bề ngoài chẳng cho ta “hiểu” gì về bản chất thật sự.

Ta sống với đôi mắt trời sinh, có mấy ai tự cho đó là món quà? Ta chỉ sợ bẩn quần áo, có mấy khi để ý cơn mưa đẹp đẽ nhường nào?

Bởi ta chỉ để trong mắt những gì ta muốn…

Giá như, chỉ giá như thôi, ai cũng nhìn bằng đôi mắt như mới được sinh ra lần đầu…


 
Copyright © 2013 TÂM LINH | Powered by Blogger